Chương III
Thời kỳ mười năm hoà bình (1955 - 1965)
 

Mẫu thuẫn giữa lượngchất ở thời kỳ này vẫn là vấn đề nổi lên, nhưng không giống trong thời kỳ chống Pháp. Các thầy lão thành sau thời gian thực hiện chương trình thời chiến đã suy tính đến chất lượng. Các thầy không chỉ mong muốn chất lượng cao hơn thời chống Pháp mà còn phải theo kịp thế giới nhưng trong khi đất nước còn đang thiếu bác sĩ. Đối tượng đào tạo có sự khác biệt giữa sinh viên nội thành và sinh viên kháng chiến. Chính quyền miền Nam cự tuyệt Tổng tuyển cử và miền Bắc đang tiến hành sửa sai cải cách ruộng đất. Nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm có những hoạt động chống đối; chiến tranh lạnh trở nên căng thẳng; Những hiện tuợng này ít nhiều đã ảnh hưởng đến trường ta. Sự quy tụ lúc này là vận mệnh đất nước bị đe doạ trước sự xâm lược của Mỹ.

Thời kỳ này có một số diễn biến và sự kiện đáng chú ý:

- 1954-1955: Năm học đầu tiên sau hoà bình: Đây là năm học hết sức quá tải vì bộ khung giảng dạy nhỏ bé còn số đối tượng phải đào tạo lại quá nhiều (cả trung cấp và sơ cấp. Công sức bỏ ra của đội ngũ thầy hết sức to lớn.

- Hai năm 1955-1957: Các giáo sư lâu năm của trường muốn xoá bỏ hẳn chương trình thời chiến, thực hiện một chương trình chính quy, đầy đủ, ngang tầm thế giới và phù hợp với Việt Nam. Nhưng cấp trên quyết định áp dụng chương trình do nhóm chuyên gia Liên Xô soạn giúp. Toàn trường dành ra hàng tháng để chỉnh huấn và học tập Hai văn kiện Mascơva.

- 1958-1960: Chỉnh huấn nhiều đợt. Xác định vai trò lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng Bộ. Xác định đường lối tuyển chọn công nông vào trường. Xác định dùng lao động công nghiệp và nông nghiệp để tăng cường giáo dục tư tưởng thầy và trò.

- 1960-1964: Do thiếu bác sỹ ở các tuyến nên thay chương trình Liên Xô bằng một chương trình giản lược (học 4 năm) để đào tạo “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” một số lớn bác sĩ phục vụ các kế hoạch 5 năm nhằm đưa Miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ Nghĩa Xã Hội, làm cơ sở đấu tranh thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình.

- Năm học 1964-1965: Sửa chữa, điều chỉnh chương trình học. Đề ra mục tiêu đào tạo. Chuẩn bị sơ tán và bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Những bài học lịch sử: thành công và không thành công

Trong 10 năm (1955-1964) tình hình thế giới và trong nước có rất nhiều biến động. Điều đáng lưu ý là chúng có ảnh hưởng rất lớn tới trường Y Dược và các trường đại học nói chung.

1954-1955: NĂM HỌC ĐẦU TIÊN SAU TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ

Năm học này với đặc điểm chuyển tiếp: từ vùng rừng núi trong kháng chiến chống Pháp, trường dời về thủ đô tiếp quản cơ sở, trang thiết bị và nhân sự của trường Y Dược trong Hà Nội tạm chiếm. Từ chương trình thời chiến, chuyển sang chương trình đầy đủ (6 năm) mà các thầy Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng và mọi thầy khác đều muốn nó phải hệ thống, đầy đủ, ngang tầm quốc tế và phù hợp với Việt Nam. Có nhiều sự kiện và xáo trộn mở đầu cho một số sai lầm tả khuynh, nôn nóng tiếp theo. Do vậy, xứng đáng được nêu tương đối đủ trong lịch sử của trường để có những bài học bổ ích.

Tiếp quản Trường Y - Dược trong Hà Nội tạm chiếm

Sau khi hiệp định Geneve (1954) được ký kết, đất nước chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Chính quyền kháng chiến do Đảng lãnh đạo sẽ tiếp thu những vùng trước đây do Pháp chiếm đóng (chủ yếu là đồng bằng Bắc Bộ), gọi là vùng bị địch tạm chiếm, Theo đó, trường Y Dược kháng chiến được lệnh về tiếp quản các cơ sở y tế lớn trong Hà Nội. Trước khi về lại Hà Nội, tuyệt đại bộ phận trường Y-Dược kháng chiến đã dời bỏ Chiêm Hoá và Thái Nguyên để tập trung về địa điểm rộng hơn: Lang Quán, cách Chiêm Hoá về phía nam không xa. Trường trung cấp của bác sĩ Hoàng Đình Cầu với hai khoá đang học gồm hàng trăm học sinh cũng được lệnh từ Thanh Hoá “hành quân” gần 200 km bằng đi bộ lên Lang Quán. Học sinh, sinh viên đông như vậy, nhưng cả tháng chẳng học hành gì được, phần vì cơ sở tạm bợ, phần vì quá phấn khởi do kháng chiến thắng lợi, phần nữa vì hầu hết các thầy bị huy động vào nhiệm vụ “tiếp quản thủ đô”. Do vậy, tốt nhất là cho sinh viên học tập về “tình hình và nhiệm vụ”; đồng thời “xác định tư tưởng” cho họ trước khi về Hà Nội. Bài bản này tiếp thu từ các chuyên gia Trung Quốc, đã được áp dụng phổ biến trong nhiều năm trước đó và sau đó.

Giáo sư Hồ Đắc Di, đương chức giám đốc Nha Đại học vụ, được cử làm trưởng ban tiếp quản toàn ngành đại học đồng thời trực tiếp tiếp quản cơ sở, tài sản và nhân viên trường Y Dược của Pháp để lại. Theo hiệp định, công chức ở vùng tạm chiếm được tuỳ ý ở lại với chính quyền mới hay di cư theo chính quyền thân Pháp vào miền Nam. Ta vận động họ ở lại, tốt hơn nữa là họ đấu tranh với Pháp không cho phá hoại tài sản, máy móc hoặc di chuyển những thứ đó vào miền Nam. Tuy nhiên sự tuyên truyền chỉ tác động chủ yếu đến một số viên chức cấp thấp. Còn những công chức cấp cao (bác sĩ, dược sĩ) nếu trốn ra vùng giải phóng trước khi ta tiếp quản Hà Nội phải là những người có quyết tâm cao ở lại miền Bắc.

Cùng giáo sư Hồ Đắc Di tiếp quản trường Y-Dược có bác sĩ Đặng Văn Ngữ, với các sinh viên phụ tá là Đinh Văn Chí, Nguyễn Văn Phan. Nhiệm vụ đã được hoàn thành tốt đẹp. Các cơ sở liên quan mật thiết với trường (như các bệnh viện Bạch Mai, Phủ Doãn, Mắt, viện Vi Trùng...) cũng được những đoàn do các thầy trường ta tiếp quản một cách suôn sẻ (đó là các vị Trần Hữu Tước, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Xuân Nguyên và Hoàng Tích Mịnh).

Trong số 9 giáo sư và 13 giảng viên người Pháp của trường Y Dược vùng tạm chiếm, chỉ có hai giáo sư Huard và Blondel nấn ná ở lại nhằm duy trì một số quan hệ sau khi Pháp rút và sau một thời gian ngắn sau cũng đi nốt. Những giáo sư này đã trên 25 năm làm việc ở đây. Trong tổng số 33 viên chức người Việt có bằng đại học (có 4 thạc sĩ, bằng cao cấp nhất của ngành Y nước Pháp) thì chỉ có 2 giáo sư thạc sĩ ở lại với chế độ ta là Vũ Công Hòe và Đặng Văn Chung - hai ông đã lánh ra vùng tự do từ trước khi ta vào tiếp quản Hà Nội - và 4 người khác là bác sĩ Trịnh Ngọc Phan, 2 dược sĩ Vũ Văn Chuyên, Nguyễn Đức Trang và nha sĩ Dương Thị Hiền (tỷ lệ ở lại 6/33=18%). Số nhân viên ở lại là 48 trong tổng số 66 viên chức của trường đại học Y Dược trong Hà Nội tạm chiếm (48/66=72%).

Với kết quả vang dội của chiến thắng Điện biên phủ, chế độ thực dân cũ và gắn với nó là hệ thống thuộc địa có nguy cơ tan rã trước phong trào cách mạng dân tộc đang dâng cao. Cuộc chiến tranh lạnh giữa 2 phe Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa do vậy rất căng thẳng, đe doạ nổ ra chiến tranh nóng toàn cầu. Vấn đề “ai thắng ai” luôn luôn được Đảng đặt ra. Sự mâu thuẫn trong phong trào Cộng sản quốc tế giữa hai xu hướng “hữu khuynh” và “tả khuynh” có lúc rất căng thẳng, với 2 đại diện là Liên Xô và Trung Quốc, gây những suy nghĩ phân tán và không lợi trong giới trí thức và văn nghệ sĩ nước ta. Tại Mascơva, 81 đảng Cộng sản đã họp tại để củng cố phong trào và ra được hai văn kiện chung, lấy đó làm cơ sở để vãn hồi đoàn kết. Trong nước, sai lầm tả khuynh trong cải cách ruộng đất được công khai thừa nhận và đang tiến hành sửa sai. Một số trí thức dao động. Đúng lúc này, một nhóm nhỏ văn nghệ sĩ đòi được tự do tư tưởng, tự do sáng tác, chống quan liêu độc đoán... hoàn toàn không phù hợp với hướng lãnh đạo tư tưởng của Đảng khi đó. Diễn đàn của nhóm văn nghệ sĩ này là tờ báo Nhân Văn, các tác phẩm Đất Mới và Giai Phẩm mùa xuân - được sinh viên các trường tò mò tìm đọc. Trước nguy cơ kẻ thù mưu đồ gây rối nhằm lật đổ chế độ, Đảng ta tiến hành các biện pháp để ổn định tình hình các trường đại học; sau dó dùng lao động trong nông nghiệp và công nghiệp và chỉnh huấn để giáo dục sinh viên và các thầy. Ngoài xã hội, Đảng tiến hành cải tạo để tiến tới xoá bỏ giai cấp tư sản (sau khi đã xoá bỏ giai cấp địa chủ bằng cải cách ruộng đất). Như vậy, các giai cấp bóc lột ở miền Bắc đã bị thủ tiêu, chỉ còn lại ba giai cấp: Công, Nông và Tiểu tư sản.

Tại các cơ sở khác mà trường có sinh viên thực tập tình hình cũng vậy, số bác sĩ và dược sĩ ở lại không nhiều (ở bệnh viện Bạch Mai là 8/18=44% tổng số bác sĩ; ở bệnh viện Phủ Doãn là 3/11=27% bác sĩ; và ở Viện Mắt là 2/5=40% bác sĩ). Nhưng nhân viên thì ở lại nhiều hơn rõ rệt (60-75%), chẳng hạn ở bệnh viện Bạch Mai, số nhân viên ở lại là 226/331=68% tổng số nhân viên.

Đến cuối tháng 12.1954, số viên chức cũ làm việc ở trường ta thống kê được là 83 người. Theo chính sách, họ được giữ “nguyên chức, nguyên lương”. Trong số này có một số y tá ở Viện Quân Y Võ Tánh (gồm hai địa điểm nay là đại sứ quán Cộng hòa Liên bang Nga [Nội khoa] và Viện Phụ Sản trung ương [Ngoại khoa]) chuyển sang; ngoài ra còn 24 người từ các nơi khác. Họ được gọi là viên chức "lưu dụng" (nghĩa là giữ lại để dùng) để phân biệt với viên chức "kháng chiến". Một số do quyết tâm ở lại với chế độ mới đã trốn ra vùng tự do trước khi ta vào tiếp quản. Có người tham gia đấu tranh giữ lại tài sản, máy móc, không cho địch mang đi (ông Nguyễn Trí Đức) hoặc đem được một xe ô tô ra vùng kháng chiến (ông Đỗ Hữu Thuyết, lái xe).

Viên chức lưu dụng đều được học chính sách: đó là không bị phân biệt đối xử, lương cũ của họ được chuyển đổi từ đồng Đông Dương của Pháp sang đồng Ngân hàng của ta theo tỷ giá 1/30 và sẽ được duy trì đến khi vê hưu. Họ được giải thích là sẽ nâng lương cán bộ kháng chiến lên ngang với lương của họ, chớ không hạ lương của họ xuống mức lương các cán bộ kháng chiến. Vì vậy, lương bác sĩ Vũ Công Hòe là 784.670đ, bác sĩ Đặng Văn Chung là 759.170đ, bác sĩ Trương Cam Cống 407.900đ, bác sĩ Trịnh Ngọc Phan 275.640đ, trưởng phòng Nguyễn Trí Đức 291.650đ, lái xe Đỗ Hữu Thuyết 186.670đ, v.v... Y tá, dược tá “lưu dụng” được lĩnh từ 150.000 đến 200.000đ, nhân viên 100.000 - 150.000đ. Giá gạo lúc đó khoảng 400đ/kg ở thị trường tự do. Trong khi đó lương của hiệu trưởng Hồ Đắc Di (viên chức kháng chiến) chỉ có 72.000 đồng.

Từ Chiêm Hóa và Lang Quán, hầu hết viên chức trường Y Dược kháng chiến đã lên đường về Hà Nội từ 21.10.1954 theo nhiều hướng và có mặt ở Thủ đô ngày 27.10, chia làm các bộ phận: về bệnh viện Phủ Doãn, về trường và đi nơi khác. Đến cuối tháng 12 năm đó, số viên chức kháng chiến có mặt tại trường là 47 người.

Việc tiếp quản cơ sở vật chất và trang, thiết bị diễn ra thuận lợi với sự cộng tác của các ông Nguyễn Trí Đức, Đỗ Hữu Thuyết và một số khác. Tài sản được kê biên khá đầy đủ với giá trị khác “một trời, một vực” tài sản ở Chiêm Hóa. Tuy nhiên, cũng thấy rõ: trang, thiết bị cho giảng dạy, nghiên cứu khá sơ sài để có thể nói là của một trường đại học. Thậm chí cả mấy chiếc xe đạp cũng được coi là tài sản quý, có ghi đầy đủ số khung, số biển và nhãn hiệu xe... ở trong sổ. Tổng số sách đếm được ở thư viện là 5.500 cuốn.

Số sinh viên ở lại miền Bắc không nhiều, với trường Y Dược cũng như mọi trường khác. Theo ước tính, chỉ còn độ 1/3. Các trường nhận được chỉ thị phải tuyển sinh và khai giảng càng sớm càng tốt, không muộn hơn 15.11.1954 nhằm thu hút sinh viên ở lại miền bắc.

Làn sóng di cư vẫn tiếp tục diễn ra (theo Hiệp định Genève, Pháp sẽ rút khỏi Hà Nội sau 80 ngày và Hải Phòng sau 300 ngày kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Đây là thời gian di cư tự do). Nhiều sinh viên tiếp tục bỏ Hà Nội vào miền Nam do lo sợ cuộc sống mới có nhiều khó khăn, ít điều kiện vươn lên.

Tổng số sinh viên ghi tên vào các trường đại học cả cũ (từ năm thứ hai trở lên) lẫn mới (tức là xin vào học năm thứ nhất) là trên 1.000, nhưng được ước đoán là 600-700, vì có nhiều người ghi tên vào 2-3 trường.

Một số ít đi ca nô đến bến Phà Đen. Lợi dụng mùa nước cạn, một số đã đóng mảng, thả trôi theo sông Lô, sông Hồng đến chân cầu Long Biên thì lên bộ. Một số khác đi bộ về Phú Thọ, Trung Hà rồi đi ô tô bus qua Sơn Tây về Hà Nội (lúc này các chủ hãng ô tô ở Hà Nội đã mở rộng kinh doanh ra vùng tự do cũ). Bộ phận bệnh viện thực hành của bác sĩ Tôn Thất Tùng chủ yếu về bệnh viện Phủ Doãn; Viện nghiên cứu của bác sĩ Đặng Văn Ngữ về bộ môn Ký sinh trùng, viện Vi trùng học và một số nơi khác; số còn lại về trường. Một số đang làm công tác Cải cách ruộng đất thì chưa về trường.
Nhiều người công tác ở trường từ thời Chiêm Hóa cho đến khi về hưu tại Hà Nội. Khi trường kỷ niệm 50 năm phục vụ cách mạng thì hầu hết số này đã về hưu hoặc đã quá cố. Có thể kể ra đây một số tên rất quen thuộc: ông Đỗ Đình Thành (với tên gọi thân mật là ông Thành thiếc), bà Đỗ Thị Vượng (vợ ông Thành), ông Lê Văn Lợi, ông Ngụy Như Kontum Em (thường gọi là ông Hai), v.v...
Về đãi ngộ, viên chức kháng chiến có bước cải thiện rất lớn so với hồi ở Chiêm hoá, nhưng còn kém xa viên chức lưu dụng. Hiệu trưởng trong kháng chiến lĩnh 60kg gạo, nay lĩnh 72.000đ (tương đương 180kg gạo), tạp vụ từ 36kg gạo hồi kháng chiến, nay lĩnh 33.000đ (tương đương 82 kg gạo). Nếu ăn tập thể với khẩu phần khoảng 2.000 calo/ngày phải đóng số tiền là 18.000đ (300 đồng/bữa). Một thống kê 6 tháng đầu năm 1955 cho thấy: lương trung bình của viên chức lưu dụng là 119.560đ, còn của viên chức kháng chiến là 39.420đ (trung bình chênh lệch nhau 3 lần, nhưng ở bậc lương giáo sư thì chênh lệch nhau tới 10 lần).

Có 69 người xin học trường Luật nhưng trường này không mở (hơn 30 năm sau mới được mở lại). Lúc này, ta có 4 trường đại học thì Sư Phạm tuyển sinh sớm nhất (2.11.54), rồi đến Văn Khoa (8.11) và Khoa học (15.11). Có tới trên 300 học sinh Hà Nội và vùng tự do xin thi vào ban Sinh-Lý-Hóa của trường Đại học Khoa học để sau 1 năm sẽ dự thi lấy chứng chỉ - điều kiện phải có để xin vào học Y khoa.

Việc mà trường Y Dược phải khẩn trương thực hiện là sắp xếp và ổn định tổ chức để guồng máy có thể khởi động. Công việc phải làm ngay là: 1) tuyển sinh vào Y1 và vào lớp tập sự Dược; 2) gọi sinh viên các lớp cũ (Y2-Y5 và D1-D4) nhập học; 3) tập hợp đội ngũ thầy, cho tới lúc đó chỉ mới có 6 người, rồi sau lên 10 người... Số sinh viên vùng tạm chiếm và vùng kháng chiến khoảng 500, gồm tới 14 đối tượng khác nhau, không thể học chung.

Ngày 12.11.1954, bác sĩ Hồ Đắc Di (với tư cách giám đốc vụ Dại học và trưởng ban tiếp quản ngành đại học) gửi một số đề xuất và câu hỏi lên Bộ Giáo Dục, vì ông không rõ mình có còn phụ trách “đại học vụ” nữa hay không (!), đồng thời đề xuất việc thành lập Viện đại học. Đến ngày 20 có công văn trả lời: 1) Việc lập một Viện Đại học Việt Nam thì Bộ còn nghiên cứu; 2) ủy ban tiếp quản đại học xem như đã giải thể, ủy viên phụ trách trường nào cứ điều hành trường đó trong khi chờ đợi được bổ nhiệm chính thức; 3) Bộ nào quản lý trường chuyên ngành đó (nghĩa là trường Y Dược từ 1945 thuộc Bộ Giáo Dục, nay về Bộ Y Tế).
Sau đó, mọi việc ngã ngũ: sẽ không có Viện Đại học (và bắt đầu quá trình xé lẻ hệ thống đại học), bác sĩ Hồ Đắc Di vẫn kiêm nhiệm một chức vụ hành chính: giám đốc Đại học Vụ (sau đổi thành Vụ trưởng Vụ Đại học và Trung học chuyên nghiệp).

Ngày 28.1.1955, bộ trưởng Bộ Y Tế bổ nhiệm Ban Giám Hiệu trường Y Dược gồm 3 người: bác sĩ Hồ Đắc Di (giám đốc), bác sĩ Đặng Văn Chung và bác sĩ dược khoa Trương Công Quyền (phó giám đốc). Trường thay con dấu: đường kính 3,6 cm (thay vì 3,4 cm), có hàng chữ Bộ Y Tế ở vành ngoài (thay vì Bộ Giáo Dục) và ở giữa là trường Đại học Y Dược khoa (thay vì trường Đại học Y khoa).

Khai giảng các lớp cũ ở nội thành. Tuyển sinh. Gọi các lớp ở vùng kháng chiến về học.

Đến 15.11 trường vẫn chưa thể tuyển sinh (theo chỉ thị của bộ Giáo Dục) vì dự tuyển vào Y1 là 150 nhưng chỉ có 77 người ghi tên.

Dẫu sao, đến ngày đó trường cũng làm lễ khai giảng cho các lớp từ Y2 đến Y5 và từ Dược 1 đến Dược 4 đúng hạn định. Đó là ngày mà đúng 9 năm trước (15.11.1945), trường khai giảng năm học đầu tiên dưới chính thể mới. Số sinh viên Y vùng tạm chiếm còn ở lại là 59, còn sinh viên Dược là 39 người (chia thành 7 lớp).

Lớp Y2 ở lại 31 người (Trịnh Văn Minh, Vũ Văn Đính, Nguyễn Đình Kim..., có người hoạt động kháng chiến nội thành như Dương Thị Cương, Nguyễn Hữu Hồng...), lớp Y3 còn ở lại 13 người (Trần Phi Liệt, Bùi Trọng Hoàn, Bùi Mẫn Học...). Lớp Y4 cũng còn 13 người (Phạm Quốc Cầm, Nguyễn Thị Thế...) và Y5 là một cặp vợ chồng (Trần Văn Sáng, Nguyễn Thị Trúc). Không có Y6. Các lớp từ Dựoc 1 đến Dược 4 còn 39 người, có 13 nữ. Sinh viên còn tiếp tục di cư vào Nam, ví dụ các lớp Dược đến cuối năm học chỉ còn 32 người.
Trường ta còn tiếp quản 2 lớp nữ hộ sinh, khóa sơ cấp 3 năm; lớp năm thứ 2 có 11 người (cuối năm học còn 4), lớp năm thứ 3 có 4 người cuối năm học đều tốt nghiệp ra trường với trình độ tay nghề rất cao.

Trong ngày khai giảng, còn có mặt các lớp học sinh y sĩ trung cấp - trước đây học ở Thanh Hóa, được sáp nhập vào trường này ở Lang Quán trước ngày giải phóng Thủ đô, gồm lớp y sĩ khóa V (tức là đang học năm thứ 2) và khóa VI (năm thứ nhất). Lớp khóa V về tới Hà Nội tháng 1.1955. Họ chỉ học vài tháng tại Hà Nội, sau đó, do thiếu chỗ ở, thiếu thầy dạy, thiếu giảng đường và nơi thực tập, nên cách giải quyết tốt nhất là cử họ đi công tác để đến tháng 6.1955 mới về trường từng bộ phận, học tiếp và thi tốt nghiệp: 43 người ra trường đợt I, 15 người học tiếp để thi đợt II và 37 người còn chờ đợi được về Hà Nội học để thi đợt III. Còn lớp Y sĩ khóa VI vừa tuyển tháng 9.1954 tại Thanh Hoá; đến tháng 2.1955 mới khai giảng tại Hà Nội, có 129 người (19 nữ). Điều kiện học tập rất thiếu thốn, chương trình chắp vá, học ghép, đến năm sau việc học của họ mới thuận lợi hơn.

Đây là đối tượng mà trường Y Dược buộc phải tiếp nhận. Một số học sinh y sĩ bỏ lớp, xin thi vào Y1 và tốt nghiệp bác sĩ năm 1962 (Đinh Văn Tài, Hà Huy Khôi, Nguyễn Việt Cồ...), lẽ ra nếu học đại học từ đầu thì họ tốt nghiệp năm 1960 (tuy nhiên, sau này họ đều thành đạt về sự nghiệp). Dẫu sao số phận các lớp Y này vẫn hơn số phận lớp Dược 2 (cũng trung cấp, cũng bị ghép vào trường này): tới tháng 5.1955 mới được gọi về trường (khi năm học đã kết thúc). Họ học thêm một học kỳ rồi thi tốt nghiệp.

Ngày khai giảng không có mặt các sinh viên kháng chiến lớp trên (vào trường từ 1945 đến 1950), vì họ đang đảm nhiệm nhiều chức vụ ở các đơn vị quân y và dân y. Họ lần lượt được gọi về trường vào các thời điểm khác nhau trong năm 1955-1956 hoặc muộn hơn. Số sinh viên quá niên hạn tốt nghiệp được ưu tiên về sớm để bổ túc, chuẩn bị luận án và thi tốt nghiệp. Thời gian dành để bổ túc các môn cũ và học thêm các môn mới dài hay ngắn tùy theo năm họ vào trường. Nói chung, đa số họ học các môn cơ sở mà hồi kháng chiến họ mới chỉ được học sơ sài, và học các môn chuyên khoa (ở lâm sàng).

Mọi người thấy hình ảnh những sinh viên mặc quân phục vào học. Buổi sáng, ở bệnh viện, họ khám bệnh và điều trị cùng với lớp với sinh viên Y4, Y5 “nội thành”. Buổi chiều, ở giảng đường, họ ngồi lẫn với sinh viên Y1, Y2 (tuổi như em họ) để học lại về Giải Phẫu, Sinh lý, Giải phẫu bệnh, Sinh lý bệnh.... Nhiều kỳ thi tốt nghiệp và bảo vệ luận án đã được tổ chức trong năm học này cho những sinh viên vào trường từ 1948 về trước (có người vào trường từ trước 1945: Trương Công Trung). Lần đầu tiên và có lẽ là lần cuối cùng, trường ta có sinh viên Y7 - Y11 và D7 - D9.

Tuyển sinh vào lớp Y1 không thể làm đúng thời gian qui định như chỉ thị đã nêu. Cuối cùng, lớp này vào trường tháng 1.1955 gồm 3 đối tượng:
1) sinh viên vùng tạm chiếm cũ (đã có chứng chỉ PCB);
2) cán bộ và bộ đội được cơ quan cho đi học, hưởng lương;
3) học sinh miền Nam tập kết ra Bắc (theo Hiệp định Genève). Cả thảy 116 người, đều không phải thi tuyển.

Theo qui chế hồi đó, chỉ những sinh viên có chứng chỉ Sinh-Lý-Hóa ( PCB ) do trường Đại học Khoa học cấp mới được vào Y1 để khỏi phải học lại những môn này. Những sinh viên này có Lê Thành Uyên, Nguyễn Vượng, Nguyễn Khắc Liêu, Đào Văn Chinh, Nguyễn Văn Thành...v.v. Trường cũng tuyển cả một số cán bộ, bộ đội như Nguyễn Cước, Trần Ngọc Can, Bùi Nghĩa, Lê Điềm..., và cuối cùng là một số học sinh miền Nam tập kết: Phan Thị Phi Phi, Nguyễn Thị Xiêm... (đều được miễn chứng chỉ PCB). Tháng 6.1955, lớp này thi lên Y2, chỉ còn lại 97 người. Giáo sư Hồ Đắc Di phàn nàn rằng các thầy chấm thi đã quá “nới tay”. Khi thi ra trường (tháng 1.1960) lớp này còn gần 90 người.
Lớp tập sự Dược có 200 đơn xin, đều được nhận cả, trong đó có một số cán bộ và bộ đội. Đây là con số chưa từng có với khoa Dược vì nó gấp hàng chục lần những năm trước (cả ở vùng kháng chiến và ở vùng tạm chiếm).
Thật ra, số tốt nghiệp trung học thời đó không nhiều đến thế. Lợi dụng việc cơ quan giáo dục trong vùng tạm chiếm đã chuyển vào Nam, nhiều học sinh Hà Nội đã làm bằng giả để xin học, sau đó đã bị phát hiện và đuổi học, trường còn tuyển được 104 có bằng cấp hợp lệ. Theo chương trình từ thời Pháp, họ chỉ học vài ba môn ở trường, còn lại thì “tập sự” ở các phòng bào chế, hiệu thuốc để quen pha chế. Lớp này bỏ học, thi rớt rất nhiều, cuối cùng chỉ còn 61 người thi được lên năm thứ nhất (gọi là D1), có 16 nữ. Đến năm D4, số tốt nghiệp ra trường còn giảm nữa. Theo chương trình từ thời Pháp thuộc, năm “tập sự Dược” là năm để sinh viên tập làm quen với kỹ thuật dược (như tên gọi của nó). Lúc này (1955), sinh viên quá đông, các cơ sở Dược chưa phục hồi mà còn bị thu hẹp, các hiệu thuốc tư không còn sản xuất và bào chế mà chỉ thuần túy buôn bán thuốc tây, do vậy kết quả “tập sự” tỏ ra rất thấp. Mặt khác trường khó quản lý sinh viên. Cũng do vậy, từ năm sau trường bỏ lớp này mà tuyển thẳng sinh viên vào D1, nên lớp cao nhất của khoa Dược lẽ ra là D4 thì từ nay sẽ là D5 (dù vẫn học 5 năm như trước).
Cùng thời gian này, số thi vào lớp Sinh-Lý-Hóa (thuộc đại học Khoa Học) - để chuẩn bị vào Y - cũng lên tới trên 300 nhưng do nhiều nguyên nhân, sau một năm số xin vào học Y chỉ khoảng một nửa.

Cuối năm học, sinh viên chính qui Y và Dược giảm 84 người vì nhiều lý do: khó khăn kinh tế, sang trường khác, bị đuổi học; còn số di cư vào Nam chỉ 15 người. Nói chung, sinh viên Y1 thuộc thành phần nghèo, có lòng yêu nước và in tưởng vào chế độ mới. Những người không có tiêu chuẩn được đãi ngộ (như cán bộ, bộ đội và học sinh miền nam tập kết ra bắc) thì đều xin học bổng và có tới 57/62 đơn xin đã được đáp ứng. Mức học bổng toàn phần là 22.000đ, dưới đó là các mức 3/4, 1/2 và 1/3.

Mức ăn tập thể của sinh viên là 16.000 đ/tháng, nếu được học bổng toàn phần thì còn lại 6.000 đồng, tạm đủ tiêu vặt. Quà sáng chỉ cần một trăm đồng là có thể ăn xôi, bánh mì hay cháo sườn. Nhiều sinh viên nghèo kiếm thêm bằng đưa báo, kèm trẻ tư gia, làm thư ký...

Thi tốt nghiệp và bảo vệ luận văn

Trong kháng chiến chống Pháp, một số sinh viên đủ niên hạn và có hoàn cảnh thuận lợi hơn bạn bè cùng lớp đã về trường thi tốt nghiệp. Năm 1954 cũng có hai kỳ thi và có 16 người tốt nghiệp, nhưng tất cả đều "nợ" luận án do khó khăn về in ấn.

In ấn quả là khó khăn không thể vượt qua trong kháng chiến chống Pháp. Vô số tài liệu cấp Nhà Nước còn phải in bằng kỹ thuật rất thô sơ, nom rất xấu. Tuy vậy, mọi người cũng chưa quan niệm đầy đủ những khó khăn về đề tài, nội dung luận án, phương pháp và kỹ thuật tiến hành; và cuối cùng là vấn đề sao đủ thầy để hướng dẫn luận án tiến sĩ cho mấy trăm sinh viên cùng một lúc?. Tuy nhiên, theo quan niệm và qui định hồi đó, các trường đại học khác học 3-4 năm lúc thi ra không cần luận án và có học vị cử nhân. Riêng trường Y phải học 7 năm, kể cả năm học P.C.B. (Sinh-Lý-Hóa), thi ra phải có luận án và học vị được gọi là bác sĩ (docteur = tiến sĩ). Do vậy, các thầy trường Y luôn luôn tâm niệm và coi luận án là điều bắt buộc đối với sinh viên Y để đảm bảo danh hiệu đào tạo. Các năm 1955 và 1956, giáo sư hướng dẫn luận án nhiều nhất cho sinh viên kháng chiến là thầy Tùng và thầy Chung. Số luận án đã bảo vệ ngay trong năm 1955 đã tới con số 66. Do vậy không tránh khỏi một số luận án sơ sài, bên cạnh những luận án được đánh giá “xuất sắc” và thậm chí “rất xuất sắc”. Về sau, chính các thầy cũng bị quá tải và đành cho sinh viên thi tốt nghiệp không cần luận án. Lúc này, xu hướng thế giới cũng bỏ luận án vào năm thứ 6 Y khoa (mà thực hiện vào năm thứ 8 hay thứ 9 của chương trình học)

Từ năm 1945 đến năm 1952 có 7 khóa vào trường (khóa 1951 và 1953 không tuyển) với 237 sinh viên. Đã tốt nghiệp, hi sinh, bị địch bắt... là 30 người, còn lại 207 người thì có 66 đã thi và bảo vệ luận án trong năm 1955. Đa số bảo vệ năm 1956. Còn khóa 1952 thi tốt nghiệp vào các năm 1958 và 1959, không luận án, cũng không bị kéo dài khoá học.

Đợt đầu tiên thi tốt nghiệp của năm học này được tổ chức từ 31.1.1955 đến 15.3.1955 gồm 3 kỳ cho 20, 16 và 21 sinh viên (vào trường từ 1948 trở về trước, có người từ trước 1945). Kết quả: 3 người đạt mức "rất xuất sắc" (Trương Công Trung, Trần Lưu Khôi, Nguyễn Văn Nhân), 20 người “xuất sắc” (Nguyễn Huy Phan, Phạm Văn Phúc, Lê Văn Lợi, Trịnh Kim ảnh, Vũ Trọng Kính, Nguyễn Bửu Triều, Vi Huyền Trác...), 13 người hạng ưu (Vũ Triệu An, Bùi Đại, Phạm Thụy Liên, Đỗ Dương Thái...) v.v... Ngày 6.7.1955 có 4 luận án thuộc khóa vào trường năm 1949 đều xuất sắc (Trịnh Bỉnh Di, Hoàng Thủy Nguyên, Đặng Đức Trạch, Nguyễn Văn Phan) và 8 ngày sau thì 5 sinh viên khóa 1948 thi (Hoàng Kỷ, Nguyễn Xuân Huyên, Ngô Văn Quỹ...). Con số 66 người đạt danh hiệu bác sĩ y khoa năm 1955 rất có ý nghĩa trong bối cảnh lúc đó. Nó tương đương với tổng số bác sĩ mà ta có trong tay khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhớ rằng, năm 1955, hầu hết các tỉnh chưa có bác sĩ, thậm chí nhiều khu cũng không có bác sĩ.

Một thống kê năm 1955 của Bộ Y Tế cho thấy: cả khu Việt Bắc gồm 6 tỉnh chỉ có 1 bác sĩ (và chỉ dám xin bộ Y tế bổ sung thêm 1), khu Tây Bắc có 1 (xin thêm 1), khu Tả Ngạn không còn bác sĩ nào (xin 5), khu III hiện có 2 bác sĩ (xin 5) và cuối cùng là khu IV có 2 (xin thêm 1). Y tế Thủ đô chỉ có 3 bác sĩ và 3 y sĩ Đông Dương (được coi là đứng đầu cả nước về số lượng cán bộ y dược cao cấp). Các tỉnh chỉ có y sĩ Đông Dương, thậm chí phải lấy cả y sĩ trung cấp làm trưởng ty Y tế (hồi đó chưa gọi là “sở y tế “ như bây giờ). Hội nghị lãnh đạo Bộ (1955) nhận định: số cán bộ cao cấp của ngành đã gấp đôi so với năm 1949. Đó là công sức của các thầy trường này, trước hết là công thầy Di và thầy Tùng.

Nhiều khoá, có người tốt nghiệp sớm hơn bạn cùng khoá tới 5 năm, do có hoàn cảnh thi sớm ngay từ hồi kháng chiến; người khác thì tới 1956 hay 1957 mới có điều kiện về thi. Điều thú vị là trường ta đã thực thi trách nhiệm công nhận tốt nghiệp đúng niên hạn cho tất cả các sinh viên do nhiệm vụ kháng chiến mà phải thi rất muộn.

Ví dụ, công nhận tốt nghiệp kể từ 1.9.1951 cho 5 bác sĩ thuộc khóa vào trường năm 1945, (Nguyễn Cận, Vũ Đình Tuân, Phạm Văn Phúc, Trịnh Kim ảnh...), mặc dù thực tế đến năm 1955 họ mới thi ra; công nhận một số sinh viên khóa 1946 tốt nghiệp kể từ 1952, khóa 1948 tốt nghiệp kể từ 1954 (Hoàng Kỷ) và khóa 1949 tốt nghiệp kể từ 1955 (Nguyễn Đình Hường, Đỗ Quang...). Từ khóa 1950 (Vũ Thị Phan, Trần Đỗ Trinh, Trịnh Thị Mão...) thì thi tốt nghiệp tương đối đúng niên hạn, hoặc ít bị muộn.

Năm học 1954-1955 còn có 18 sinh viên Dược và 6 Dược sĩ Đông Dương thi tốt nghiệp, cũng phải lập các hội đồng chấm thi, cũng chia ra các loại xuất sắc, ưu, thường (Lê Quang Toàn, Nguyễn Hưng Phúc, Đàm Trung Bảo, rồi đến Hà Như Phú... và Lê Đức Trình, Hoàng Tích Huyền...). Điều đặc biệt là các vị y sĩ Đông Dương cũng thi để lấy bằng bác sĩ. Đây là những vị đã cao tuổi, rất giỏi tiếng Pháp (vì học bằng tiếng Pháp từ thời Pháp thuộc), có nhiều kinh nghiệm chuyên môn, đã và đang đảm nhiệm các cương vị cao trong ngành. Khóa ra trường cuối cùng của họ là năm 1936 (sau 4 năm học ở trường Y Dược Đông Dương). Trong kháng chiến, mặc nhiên họ được gọi là bác sĩ, nhưng để chính thức có bằng cấp thì tất cả 41 vị đều phải qua kỳ thi. Luận án của họ đa số là "rất xuất sắc", còn bài thi tốt nghiệp được các thầy đánh giá cao.

Ngày 6 và 9.6.1955 có 10 y sĩ Đông Dương thi lên bác sĩ: Hoàng Sử (lúc đó đang là chủ nhiệm bộ môn Y-Vật lý), Nguyễn Đức Khởi (khi đó đang là Giám đốc sở Y Tế Hà Nội), Ngô Đâng Ngạnh (Chánh Văn phòng Bộ), Nguyễn Hữu Giới, Vũ Trọng Từ... Ngày 29.7.1955 có 21 người thi: Lê Văn Cơ (58 tuổi, y sĩ năm 1924), Trịnh Đình Cung (50 tuổi, y sĩ năm 1930, từng là Giám đốc Y tế Bắc Bộ), Hoàng Lẫm (50 tuổi, y sĩ 1930, đang là Giám đốc Y tế khu Việt Bắc), Nguyễn Kính Chi (57 tuổi, y sĩ năm 1922, đang Thứ trưởng Bộ Y Tế), Bạch Như ấp (50 tuổi, y sĩ năm 1930, đang trưởng Ty Y tế Phú Thọ).... và trẻ nhất là ông Vũ Tiến Thọ (45 tuổi, y sĩ khóa cuối, 1936)...

Thời Pháp thuộc, còn có chức danh "y sĩ xã hội" do một trường ở Sài Gòn đào tạo. Ngày 7 và 9.6.1955 có 10 người thi lên bác sĩ. Các y sĩ xã hội còn lẻ tẻ thi nhiều năm sau, khi hoàn cảnh cho phép.

Ví dụ, năm 1955 có các ông Huỳnh Viết Cường, Tô Như Khuê, Nguyễn Sỹ Lâm (tức Y-Tlam), Trịnh Phúc Nguyên..., thi lên bác sĩ. Những năm sau có các ông Phạm Duy Thoan, Đỗ Bạt Tụy (1959, thi chuyên khoa X quang, trước 1975 là phó chủ nhiệm bộ môn X quang của trường), Y-ngông Niekdam (1962, thi chuyên khoa Chấn thương), v.v... Trường không có chuyên khoa “Xã Hội”, do vậy, các y sĩ xã hội đã bỏ chuyên khoa cũ, thi lên bác sĩ bằng một chuyên khoa mới.

Chương trình. Tình hình học tập

Chương trình cho các đối tượng học sinh sơ cấp, trung cấp, mà trường tạm thời còn phải đảm nhiệm, rõ ràng là một chương trình đối phó, không đầy đủ, mặc dù có sự cố gắng cao độ của cả thầy và trò. Chất lượng được đâu hay đó. Thời gian để đào tạo một khoá y sỹ chỉ có 2 năm; vậy mà cuối 1954 và nửa năm 1955 phải di chuyển nhiều, thiếu thốn đủ thứ. Điều may là học sinh y sỹ tuyển vào trường hồi đó đều có trình độ văn hoá tương đối vững, ít nhiều đã đọc được sách tiếng Pháp ngay từ khi học trung học. Do vậy họ có thể nỗ lực tự học để bổ khuyết, kể cả sau khi ra trường.

Các sinh viên kháng chiến được học bổ túc nhiều môn mà trong hoàn cảnh chiến tranh họ chưa được học hoặc học sơ sài. Nói chung, họ rất biết cần học gì và dành nhiều công sức cho các môn cơ sở và các môn chuyên khoa lâm sàng mà họ muốn theo đuổi lâu dài. Thực tế, trong kháng chiến họ học ngoại khoa chấn thương là chủ yếu.

Các lớp chính quy vẫn học theo chương trình của Pháp, nhất là các lớp từ Y3 trở lên vì đã đi được nửa đoạn đường. Tâm niệm của các nhà soạn thảo chương trình lúc đó là muốn có một chương trình thật hệ thống, đầy đủ, có chất lượng cao và phù hợp với Việt Nam (sau thời gian suốt 8 năm phải thực hiện “chương trình thời chiến”, thiếu thốn mọi điều kiện).

Chương trình thực thi của trường Y Dược ở Hà Nội tạm chiếm vẫn là "chương trình Pháp", nhưng được áp dụng khá tùy tiện, ở chỗ các môn cơ sở được dạy rất sơ sài, trừ môn Giải Phẫu lại kỹ quá mức cần thiết. Y học dự phòng hoàn toàn bị xem nhẹ. Những điều đó, giáo sư Hồ Đắc Di đã nhiều lần nhận xét và trăn trở. Trong hoàn cảnh bề bộn công việc của năm học đầu, thiếu thầy, thiếu giảng đường nghiêm trọng (có tổ, được thầy giảng ở ...vườn hoa Pasteur, trước Viện giải phẫu) thì việc để cho lớp Y1 và Y2 (mà năm học chỉ dài 6 tháng) học theo chương trình nào là điều chưa cần vội giải quyết ngã ngũ. Thực tế họ đã được học mọi môn mà hầu hết các nước phải dạy cho những lớp vỡ lòng của đại học Y - dù đó là nước tư bản hay xã hội chủ nghĩa.

Điều đáng nói là môn Chính trị đã được dạy cho mọi lớp, từ Y1-Y5 và từ lớp tập sự Dược đến D4, tuy có hơi muộn. Tuy nhiên, đây là những bài giảng chung cho toàn khối đại học (nhiều trường), tiến hành ở đại giảng đường (phố Lê Thánh Tông). Sinh viên viên đến nghe giảng rất đông, vì muốn biết Chính Trị là gì; do vậy rất thiếu chỗ ngồi, phải đứng và thậm chí không chen vào nổi để nhìn thấy giảng viên. Chỉ sau vài buổi, họ thấy nội dung ít hấp dẫn, trình độ thầy bất cập, vì vậy môn này ít cuốn hút sinh viên. Về sau, một số buổi giảng rất đặc sắc của thầy Trần Văn Giàu đã mang lại hứng thú cho sinh viên khi học môn này.

Tuy nhiên, điều rõ ràng là khi đó chưa có một chương trình ổn định áp dụng cho môn này. Theo quan niệm, môn này có thể hoàn toàn thay cho môn Đạo đức Y học, thậm chí còn đem lại tác dụng cao hơn, sâu sắc hơn, toàn diện hơn, vì nó xác định lập trường giai cấp, quan điểm phục vụ công nông binh cho người thầy thuốc.

Lần đầu tiên, sinh viên vùng tạm chiếm được nghe giảng bằng tiếng Việt, thay vì tiếng Pháp. Lúc đầu có bỡ ngỡ vì những danh từ rất hay dùng như “hưng phấn”, “ức chế”, sau quen dần và rất hoan nghênh. Họ cũng có thói quen bỏ giờ giảng nếu thầy giảng không hay (theo phong thái dự lớp tự do của trường đại học cũ), vì họ có thể tham khảo sách Pháp ở thư viện. Phòng Giáo vụ đối phó bằng cách cử người đến lớp điểm danh nhưng ít có kết quả. Sinh viên vùng tạm chiếm cũng rất không quen học tổ, học nhóm (coi là mất thì giờ) dù được phòng Giáo vụ khuyến khích và hướng dẫn. Sau này, khi thành phần công nông vào trường với tỷ lệ rất cao và đảm nhiệm các cương vị nhóm trưởng, tổ trưởng thì việc học tổ, học nhóm mới rộng khắp.

Học nhóm là vài ba sinh viên học chung, giải đáp thắc mắc cho nhau, kiểm tra nhau xem đã hiểu và thuộc chưa. Bao giờ cũng sắp xếp để trong nhóm có người khá giỏi để hỗ trợ người kém. Học tổ là khoảng 10-20 người cùng thảo luận một vấn đề; tuy nhiên dần dần “học tổ” chỉ còn là sự nhắc lại bài, thậm chí cử một sinh viên học khá thuyết trình lại toàn bài để các bạn kém được nghe lần thứ hai, hy vọng sẽ nhập tâm nhiều hơn so với trực tiếp nghe thầy giảng ở lớp. Đó là nguyên nhân để một số sinh viên rất thích học tổ, học nhóm.

Sinh viên có quyền thi mỗi môn 2 lần, tỷ lệ không đạt ở lần 1 tới gần 50%, chủ yếu rơi vào các lớp dưới (năm thứ nhất và thứ 2, cả Y và Dược). Thầy Hồ Đắc Di vẫn phàn nàn là các thầy chấm quá dễ dãi: kỳ thứ nhất cứ phải chấm điểm đúng học lực; bây giờ hoà bình rồi, điều kiện học tập hơn hẳn trước đây... Nhưng sau này các thầy bị phê phán là thiếu lập trường giai cấp, vì số phải thi lại chủ yếu rơi vào thành phần cơ bản, đã được chiếu cố khi tuyển sinh nên các thầy lại phải chấm điểm hết sức “nới”.

Vài nét về tổ chức nhà trường năm 1955

Vẫn mang những nét lớn như khi trường ở Chiêm Hoá. Bộ phận giáo vụ (lúc gọi là ban, lúc gọi là phòng) do ông Vũ Văn Yến đứng đầu (gọi là chủ nhiệm - một chức danh có từ thời ở Chiêm Hóa). Chủ nhiệm giáo vụ lo việc sắp xếp, bố trí và quản lý về giảng dạy, kể cả in sách. Bộ phận hành chính cũng có một chủ nhiệm đứng đầu, lo mọi công việc còn lại, kể cả tài chính, nhân sự, quản trị. Tổ chức gọn nhẹ này thích hợp với trường có ít viên chức, việc điều hành chưa phức tạp.

Cuối năm học, bộ Y tế có thông tư qui định bộ máy của trường gồm có: 1) Giám đốc và hai cấp phó; 2) Ban giáo vụ (có 2 tiểu ban: tiểu ban đại học và tiểu ban trung cấp); 3) Ban hành chính-quản trị; 4) Các lớp Y và Dược. Như vậy, trong quan niệm của các vị lãnh đạo Bộ, trường ta không có khối các bộ môn, không có bệnh viện thực hành và các viện nghiên cứu thuộc trường.

Tuy nhiên, năm 1955 trường vẫn nhận được các bản báo cáo công tác của bệnh viện Mắt, Viện Vi trùng học... gửi về. Đó là các cơ sở xưa nay vẫn thuộc trường, có nhiệm vụ báo cáo công việc hàng tháng với hiệu trưởng. Nay các cơ quan đó vẫn quen nếp cũ mà không biết rằng Bộ đã cho phép họ tách khỏi trường và có vị thế ngang với trường. Còn Viện Giải phẫu không còn là viện thuộc trường nữa, chỉ còn là bộ môn nhưng mọi người vẫn quen gọi địa điểm này là "viện" cho đến tận bây giờ.

Theo mô hình đại học Y của Pháp, người đứng đầu bộ môn là giáo sư, nếu thiếu thì lấy giảng viên (phó giáo sư) tạm phụ trách. Một cán bộ giảng dạy được chọn ra giúp giáo sư tổ chức và quản lý việc dạy thực hành gọi là trưởng labô hoặc trưởng khoa lâm sàng (tùy theo đó là bộ môn cơ sở hay bộ môn lâm sàng).

Chẳng hạn, hồi 1955 giáo sư Đặng Văn Ngữ là chủ nhiệm bộ môn Sinh lý học, còn trưởng labô của ông là bác sĩ Trịnh Bỉnh Di; giáo sư Đặng Vũ Hỷ (Da Liễu) đã chỉ định trưởng khoa lâm sàng là bác sĩ Huỳnh Kham... Mô hình trên bị phá vỡ khi bệnh viện thực hành không còn thuộc trường, khi đó trường không có quyền bổ nhiệm các chức vụ trưởng khoa nữa. Sau này, khi chỉnh huấn và áp dụng chương trình Liên Xô thì mô hình này còn bị phê phán bằng những từ khá nặng nề, gay gắt...

Sinh viên học ở bệnh viện còn phải nhận những nhiệm vụ theo chức danh dành cho họ trong bậc thang điều trị: Y2 được gọi là sinh viên thực tập; Y3 là sinh viên thường trực; Y4 là sinh viên điều trị, còn Y5 nếu qua được kỳ thi tuyển thì gọi là sinh viên nội trú, có trợ cấp và có chỗ ở trong bệnh viện. Năm 1955 không kịp có kỳ thi tuyển chọn sinh viên nội trú mà phải tới 1958. Năm đó, nhiều sinh viên trúng tuyển: Phạm Song, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Việt ... (khóa 1952, ở vùng kháng chiến về), Trịnh Văn Minh, Nguyễn Hữu Hồng, Dương Thị Cương, Vũ Văn Đính... (lớp Y5, trước đó học ở trường trong Hà Nội tạm chiếm). Năm sau, chế độ nội trú bị bãi bỏ và sau 30 năm mới được phục hồi.

Trường rất quan tâm việc sắp xếp đội ngũ thầy vào các chức danh, để bảo đảm kỷ cương, tránh tình trạng cá mè một lứa. Ngày 22.5.1955 trường có công văn chính thức đề nghị Bộ Y Tế công nhận các vị chủ nhiệm (hoặc phụ trách) của 17 bộ môn Y và 4 bộ môn Dược hiện có nhưng không được đáp ứng.

Xây dựng đội ngũ thầy.

Trong năm học, trường có nhiều bảng danh sách thầy với sự thay đổi, thêm, bớt, theo thời gian; chứng tỏ việc xây dựng đội ngũ thầy được tiến hành suốt năm. Dù có tên trong danh sách từ đầu năm học nhưng thầy Đặng Vũ Hỷ đến tháng 6 (cuối năm học) mới có mặt ở trường. Danh sách cuối cùng được lập ngày 11.7.1955 gồm có 12 giáo sư, 15 giảng viên, 5 trưởng khoa lâm sàng, 13 trợ giáo, cộng 45 người, nhưng phần lớn không thuộc biên chế trường, kể cả một số giáo sư. Dẫu sao, đó là danh sách đầy đủ nhất.

Qua các bảng danh sách thầy, có thể thấy đội ngũ này bị quá tải đến mức nào khi họ phải gánh trên vai 15 đối tượng học sinh và trên 30 môn học khác nhau mà họ phải dạy. Dường như không ai nhận được sự biểu dương nào về công sức đã bỏ ra. Đã vậy, họ tốn không ít thời gian vào việc chỉnh huấn, học văn kiện và các việc không tên khác. Tình trạng kéo dài khá lâu, đến nỗi Bác Hồ có thư cho giáo sư Tôn Thất Tùng khi biết giáo sư bị huy động tham gia “tổng vệ sinh” ở bệnh viện (đại ý) “chú mà lao động chân tay hôm sau chú mổ run tay làm chết bệnh nhân thì ai chịu trách nhiệm...”.

Tuy vậy, bản danh sách nào cũng có tên 11 hay 12 vị được ghi rõ học hàm giáo sư. Trong số này có 9 vị được bầu chọn từ trong kháng chiến chống Pháp theo các tiêu chuẩn:
1) Năm 1945 đã được bổ nhiệm là "quyền giáo sư" (sau gọi là giảng viên, và nay hiểu là phó giáo sư);
2) Từ thời gian đó vẫn làm đúng chuyên khoa và có tham giảng dạy;
3) Có uy tín chuyên môn. Đó là các vị: Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp, Hoàng Tích Trý, Trần Hữu Tước, Đặng Vũ Hỷ, Nguyễn Xuân Nguyên, Trương Công Quyền. Còn hai vị có bằng thạc sĩ và chính thức được phong học hàm trong Hà Nội tạm bị chiếm nay coi như "nguyên chức, nguyên lương" theo chính sách, là Đặng Văn Chung và Vũ Công Hòe. Cuối cùng, bác sĩ Đinh Văn Thắng thì có bản danh sách để là giảng viên, có bản lại để là giáo sư.

Bác sĩ Đinh Văn Thắng dạy ở trường từ hồi Pháp thuộc, sau cách mạng tháng 8.1945 ông đã được bổ nhiệm “quyền giáo sư” và giám đốc bệnh viện Bạch Mai. Sau ông vào quân đội, làm hiệu trưởng trường Trung cấp quân y đóng ở Vĩnh Yên, rồi bị địch bắt đưa về Hà Nội (phong ông hàm đại tá, giám đốc bệnh viện quân y Đồn Thuỷ - nay là 108). Ông vẫn liên hệ với tổ chức kháng chiến của ta ở nội thành và khi Hà Nội sắp được giải phóng thì ông trốn ra vùng kháng chiến (cùng với GS Đặng Văn Chung, Vũ Công Hoè và nhiều người khác). Rắc rối ở chỗ, khi bị địch bắt vào Hà Nội, chúng mua chuộc bằng cách trọng dụng ông, nhưng không để ông dạy đại học nữa; do vậy ông không có học hàm.

Ngày 21.1.1955, chín giáo sư đầu tiên mà trường “tạm bổ nhiệm sớm” đã được bổ nhiệm chính thức và đến tháng 10.1955 thêm ba giáo sư vùng tạm chiếm cũ cũng được bổ nhiệm.

Đó là 12 giáo sư đầu tiên, có công lao rất lớn trong sự nghiệp xây dựng trường từ những ngày trường ta còn trứng nước, sẽ mãi mãi được lịch sử trường ghi công và biết ơn.

Hồ Đắc Di
Tôn Thất Tùng
Đặng Văn Ngữ
Đỗ Xuân Hợp
Hoàng Tích Trý
Trần Hữu Tước
Đặng Vũ Hỷ
Nguyễn Xuân Nguyên
Trương Công Quyền
Đặng Văn Chung
Vũ Công Hòe
Đinh Văn Thắng

Đến tận 24.11.1955 Bộ Y Tế mới có quyết định công nhận 7 giảng viên - tương đương phó giáo sư (trong số 15 người mà trường đề nghị): Nguyễn Trinh Cơ, Hoàng Tích Mịnh, Phạm Khắc Quảng, Hoàng Sử, Đỗ Tất Lợi, Huỳnh Quang Đại, Vũ Văn Chuyên. Dù rất nhiều công việc, trường ta vẫn kiên trì việc tuyển lựa các học hàm và chức danh giảng dạy bằng cách tổ chức thi cử. Đầu tiên là thi chọn các chức danh trợ giáo, phó labô, phó khoa lâm sàng.

Ngày 6.5.1955, trường gửi Bộ Y Tế và Bộ Giáo Dục bảng tiêu chuẩn (soạn từ 1953, nay có bổ sung) để tuyển chọn các chức danh giảng dạy.

Có lẽ đây là bảng tiêu chuẩn đầu tiên của trường và của toàn ngành đại học Việt Nam, nếu được thực thi sớm thì sẽ tạo ra nền nếp chọn lựa chức danh một cách khách quan, theo tài, đức và sự nỗ lực bản thân .Do vậy, lịch sử trường và lịch sử ngành đại học cũng cần phải thừa nhận trường Y-Dược đi đầu cho dù một cách đơn độc trong việc sắp xếp và tuyển chọn chức danh khoa học. Sở dĩ như vậy là vì các trường bạn mới thành lập về sau nên chưa đủ điều kiện để làm điều này. Ví dụ thâm niên giảng dạy của họ còn quá mỏng, công trình nghiên cứu chưa đủ dày.

Theo bảng tiêu chuẩn, phụ đạo viên (tức trợ lý, trợ giáo), phó labô và phó khoa lâm sàng đều phải qua kỳ thi chuyên môn, sư phạm, rồi phải xem xét về tư cách và đạo đức nghề nghiệp. Dù trúng tuyển, sau một năm vẫn phải được đánh giá là "có thể giữ lại" hay "phải chuyển đi". Còn phụ giảng, trưởng labô, trưởng khoa lâm sàng thì chọn trong số cấp phó đã có ít nhất 2 năm công tác và phải qua một kỳ thi. Sau 3 năm, họ có quyền thi giảng viên. Giáo sư được chọn trong số giảng viên có thâm niên ít nhất 6 năm, không thi, nhưng phải trình bày thành tích đào tạo, nghiên cứu và năng lực cá nhân trước Hội đồng giáo sư. Quả thật, tiêu chuẩn khá chặt chẽ và khá khó.

Đây cũng là theo quan niệm Pháp mà các thầy tiếp thu từ xa xưa, chỉ Hội Đồng gồm toàn giáo sư mới đủ thẩm quyền xét học hàm giáo sư, nếu lẫn thành phần thấp hơn thì không hợp thức và có thể xảy ra tình trạng người chưa là giáo sư lại “chấm điểm” cho người có năng lực cao hơn mình; thậm chí có người bỏ phiếu cho chính mình. Nó đơn giản như hiện nay không để người chưa có học hàm, học vị trên đại học lại ngồi trong hội đồng chấm luận án tiến sĩ.

Theo bảng tiêu chuẩn do trường ta soạn thảo 1955-1956, bác sĩ ra trường có thể trở thành giáo sư sớm nhất sau 12 năm.

Sau 1 tuần trình lên hai Bộ, trường thông báo rộng rãi việc thi tuyển phụ giảng với nội dung và thể thức rất cụ thể cho từng chức danh: phó khoa, phó labô, phụ đạo viên; trưởng khoa, trưởng labô, giải phẫu viên. Đến nay chưa tìm được danh sách trúng tuyển và chưa biết có được cấp có thẩm quyền công nhận hay không.

Những sinh viên có năng lực nhất có thể dự thi tuyển Trợ thủ giải phẫu với nhiệm vụ phẫu tích tử thi và hướng dẫn các nhóm sinh viên Y1 thực tập. Các sinh viên (học xong Y2) trúng tuyển năm đó là Trịnh Văn Minh, Nguyễn Hữu Hồng, Dương Thị Cương, Nguyễn Đình Kim, Trần Thị Mai, Nguyễn Thị Liên... tất cả 13 người. Đến nay chỉ còn Trịnh Văn Minh tiếp tục theo đuổi chuyên ngành Giải phẫu, trở thành người có thâm niên cao nhất hiện đang làm việc về chuyên khoa này.

Các kỳ thi tuyển vào các chức danh trong hệ đào tạo như nói trên là những kỳ thi đầu tiên của trường ta và cũng là của ngành đại học, lẽ ra nó phải là sự khởi đầu cho một nền nếp lành mạnh, khoa học và tiến bộ. Phải có một Hội Đồng hợp thức và đủ uy tín về học hàm để xét chọn học hàm.
Một số giáo sư trường ta (thầy Ngữ) giải thích cho các thầy trẻ ra trường 1960: những tiêu chuẩn không liên quan đến học thuật (vẫn cần phải có, ví dụ: đạo đức, tư cách, lập trường...) phải được các bộ phận chức năng rà soát và thẩm định trước, rồi mới đưa danh sách ứng viên cho Hội Đồng Giáo Sư, để Hội Đồng này chỉ còn một nhiệm vụ xét một tiêu chuẩn tối hậu (học thuật) mà thôi. Phiếu của Hội Đồng không phải phiếu "bầu" mà là phiếu "xét chọn" của những người có học hàm cao hơn bày tỏ ý kiến có tán thành người học hàm thấp hơn mình đã xứng đáng được học hàm cao như mình, hay chưa.

Các hoạt động khác

- In ấn. Sách học bằng tiếng Việt rất thiếu. Bộ sách Giải phẫu của giáo sư Đỗ Xuân Hợp năm đó được xuất bản tập Bụng, 300 trang, 250 cuốn, in typo. Các sách khác chỉ in rônêô: Sinh lý học, 43 trang, 412 cuốn (Đặng Văn Ngữ), Vật lý Y học, 115 trang, 125 cuốn (Hoàng Sử), Bệnh học Nội khoa tập I, 95 trang, tập II, 84 trang và Cấp cứu Nội khoa 21 trang (Đặng Vũ Hỷ) in từ 100 đến 600 cuốn...

- Một số buổi báo cáo khoa học mang tính "hữu nghị Việt - Pháp" của các giáo sư Huard, Blondel và các bác sĩ Besanỗon, Valette... có rất ít người dự, phải huy động cả sinh viên đến nghe cho đỡ vắng. Do ngại bị quy kết về lập trường, nhiều thầy không muốn tiếp xúc với các thầy người Pháp, dù cách đây chục năm đã cộng tác với họ, hay đã học họ.
- Về nghiên cứu, chưa có một chủ trương chính thức nào nhưng nhiều thầy vẫn công bố những công trình riêng của mình: Nguyễn Trinh Cơ (gây tê), Vũ Công Hòe (dịch than ở súc vật), Đặng Vũ Hỷ (eczema, tình hình mại dâm, chẩn đoán giang mai), Nguyễn Xuân Nguyên (mắt hột và dự án tiêu diệt)... Thầy Tôn Thất Tùng có công trình công bố ở Đức, Anh, Pháp, Nga.
- Mô hình bệnh viện thực hành và viện-trường bị phá vỡ bằng quyết định ngày 19.7.1955 của Bộ Y Tế, coi các bệnh viện Bạch Mai, Phủ Doãn... là đơn vị trực thuộc Bộ, độc lập với trường. Lúc này, việc thực tập của sinh viên chưa gặp khó khăn vì số lượng sinh viên còn ít và bác sĩ ở bệnh viện rất thiếu, nhất là bác sĩ giỏi, còn các thầy biên chế trường vẫn nắm các cương vị chủ chốt về chuyên môn (không thể thay thế) ở mọi bệnh viện lớn.

Các thầy ở trường đảm nhiệm hầu hết chức vụ chuyên môn chủ chốt của bệnh viện. Sinh viên của trường thực sự đảm nhiệm các chức năng trong điều trị. Chẳng hạn, để trực đêm ở liên khoa Nội-Nhi-Lây-Thần kinh chỉ cần 1 bác sĩ (tại nhà), 1 sinh viên nội trú (Y5), vài sinh viên diều trị (Y4) và thực tập (Y3), rất ít khi cần đưa ô tô đến nhà mời bác sĩ trực đêm giải quyết các cấp cứu, kể cả phẫu thuật, vì sinh viên đã giải quyết tốt mà không sợ mắc sai lầm.

Thi đua. Các bản thành tích của các đơn vị gửi lên kể rất tỉ mỉ những cố gắng và sáng kiến của tập thể và cá nhân, nói lên tinh thần thi đua sôi nổi, lành mạnh. Nó thể hiện lòng tự hào với nền độc lập vừa giành được và trách nhiệm với công cuộc xây dựng đất nước, đấu tranh thống nhất tổ quốc. Tuy vậy, có một số ít báo cáo đã bộc lộ những mầm mống phô trương, hình thức và thành tích chủ nghĩa. Một số "sáng kiến" rất gượng ép.

- Tháng 2.1955 Bộ Y Tế dự thảo kế hoạch công tác, có nhiều vấn đề liên quan tới trường: lập Hội đồng Y học quốc gia và Hội Y học Việt Nam (2/3 thành viên là các thầy của trường); giải quyết bệnh mắt hột, sốt rét, hoa liễu (đều do các thầy của trường đứng đầu); xuất bản tạp chí Y học (các thầy của trường được bổ nhiệm vị trí lãnh đạo cao nhất), chấn chỉnh và nâng cấp trường đại học (phát triển labô, mời và chọn ban giáo sư), và kế hoạch đào tạo cán bộ cao cấp của ngành (vẫn phải giao cho trường)...

- Đợt học tập chính trị cuối năm 1955, trung ương chỉ đạo, do vậy các thầy đều phải tham gia, kể cả hiệu trưởng. Mục đích: nhằm phê phán tư tưởng hữu khuynh, "hòa bình chủ nghĩa", tư tưởng tư sản và tiểu tư sản...

1955 - 1958: BA NĂM CÓ NHIỀU BIẾN ĐỘNG

Ba năm học này trường ta có những xáo động, đáng nhớ như những bài học.

Một chương trình chính qui và hệ thống được soạn thảo và áp dụng trong hoàn cảnh nhà trường đã ổn định, được làm nhiệm vụ đào tạo trong hòa bình. Tiếp đó, những biến cố về xã hội, chính trị đã ảnh hưởng tới trật tự, ổn định trong khối đại học nói chung, rồi việc áp dụng chương trình Liên Xô ở trường ta thay cho chương trình cũ diễn ra không suôn sẻ. Cuối cùng, các biện pháp hành chính và tư tưởng cứng rắn hơn đã đưa trường ta vào quỹ đạo mong muốn.

NĂM HỌC 1955-1956

Trên thế giới, có vụ bạo động cướp chính quyền ở nước bạn Hungari. Ngoài xã hội, có sự thừa nhận sai lầm tả khuynh trong Cải cách ruộng đất; một số nhà văn và nghệ sĩ ra báo Nhân Văn và các tác phẩm mang tên Đất Mới, Giai Phẩm mùa Xuân... đòi thoát khỏi sự lãnh đạo của đảng dưới chiêu bài tự do tư tưởng, tự do sáng tác... Điều đó cũng ảnh hưởng đến tư tưởng sinh viên trong học tập.

Sinh viên chính qui từ Y2 đến Y6 và sinh viên Dược từ D2 đến D5 (trước đây gọi là D1 - D4) tổng cộng là 169. Trường tuyển được 73 sinh viên D1 (năm trước còn gọi là Tập sự Dược) và 157 sinh viên Y1. Vào Y1 là những sinh viên đã học 1 năm ở trường Đại học Khoa học để thi lấy chứng chỉ Lý-Hóa-Sinh (PCB), và là năm cuối cùng trường ta đòi hỏi chứng chỉ này để vào Y1. Như vậy, riêng sinh viên chính qui đã tăng lên 2,36 lần, còn đội ngũ thầy thì từ 45 tăng lên thành 47 người, vẫn gồm 4 cấp chức danh: giáo sư (12 vị), giảng viên (7 vị đã được công nhận và 8 vị khác do trường tạm công nhận), trợ giảng và phụ trợ giảng (20 vị). Trong đó hai phần ba cán bộ vẫn không thuộc biên chế trường. Rõ ràng sự quá tải là rất nặng nề, mặc dù trường ta có mời được 11 bác sĩ tham gia giảng hợp đồng. Môn Chính Trị được học ngay từ đầu năm, nhưng 100% thầy là mời giảng, đúng giờ đến lớp, giảng xong về ngay, do vậy chưa có "bộ môn" kể cả tên và địa điểm của bộ môn. Nội dung giảng dạy Chính trị chẳng mấy hấp dẫn nhưng sinh viên đi học khá đều vì được thông báo rằng nó quan trọng bậc nhất khi thi lên lớp và thi tốt nghiệp. Cụ thể, thi tốt nghiệp chỉ gồm hai bài: bài chuyên môn và bài chính trị. Chính trị không học Triết, lý luận, mà chủ yếu học đường lối, chính sách, quan điểm. Đôi khi học cả Thời sự...

Trường mở thêm một số labô ở ban Dược, còn số labô ở ban Y vẫn là 6, tuy trang thiết bị còn thiếu nhưng lần đầu tiên trong suốt 10 năm qua (cả ở Chiêm Hóa và Hà Nội), sinh viên được thực tập một chương trình đầy đủ và thích thú nhất, với sự cố gắng rất lớn của giảng viên và kỹ thuật viên. Bản thành tích thi đua của bộ môn Sinh lý học và các labô khác đã minh họa cho điều này. Môn Giải Phẫu vẫn rất nặng, ngay đầu năm, sinh viên Y1 đã kháo nhau điều đó, và họ đã rất chật vật qua các kỳ thi. Các môn cơ sở khác đều học trung bình mỗi tuần 2 tiết lý thuyết, tính ra mỗi năm đã học tới 72 tiết cho một môn, riêng giờ của Sinh Lý Học gấp đôi. Các nhà soạn thảo chương trình (Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp...) hài lòng vì sinh viên Y1, Y2 bắt đầu được học một chương trình chính qui, hệ thống, tương đương chương trình của Pháp mà trước đây chính các vị đã được đào tạo ra. Các môn cơ sở được coi trọng đúng mức. Môn Bệnh Học thực nghiệm và Bệnh Lý đại cương (chương trình Pháp) được thay bằng môn Sinh Lý Bệnh học do chuyên gia Liên Xô giúp đỡ xây dựng (phó giáo sư Pulin), môn Sinh Lý Học có một số bài giảng của nữ giảng viên Bêlikôva (qua phiên dịch của chị Bích Hường). Do không cần học lại Lý-Hóa-Sinh nữa, nên sinh viên Y1 được học ngay các môn Y học cơ sở, và dự kiến năm Y2 sẽ học xong môn Triệu Chứng Học (học các buổi sáng, tại bệnh viện) và buổi chiều sẽ thanh toán môn Giải Phẫu Bệnh, Sinh Lý Bệnh, Dược Lý và Phẫu Thuật Thực Hành; mỗi môn đều gồm 70 tiết lý thuyết và trên 50 tiết thực hành. Đây là lớp đầu tiên sau kháng chiến và cũng là lớp cuối cùng sau hoà bình phải dành ra tới 7 niên khóa để thanh toán chương trình Y.

Trong ngày gặp gỡ sinh viên mới vào trường, giáo sư Hồ Đắc Di đã nhận xét về chương trình mà Pháp áp dụng ở Việt Nam: Còn nhiều chỗ không sát với tình hình đất nước chúng ta, đồng thời “họ” tự ý cắt xén nội dung các môn cơ sở (so với chương trình ở chính quốc). Chúng ta sẽ áp dụng một chương trình vừa chất lượng, vừa phù hợp... Ông hi vọng từ nay các lớp Y1 vào trường với trình độ khoa học cơ bản tương đối vững, chương trình của trường sẽ được thực hiện tốt đẹp. Giáo sư cũng căn dặn các lớp Y1, Y2 phải bám sát bệnh viện, lăn lộn với thực tiễn lâm sàng thì mới có thể hoàn thành được luận án. Thời nay, Y học đã tiến bộ rất nhiều, không dễ gì hoàn thành luận án trong một năm Y6. Vài năm sau, chương trình này được thay thế bằng chương trình Liên Xô.

Hầu hết sinh viên Y1 đã tham khảo được sách của Pháp ở các mức độ khác nhau và họ hay mượn thư viện nhất cuốn Giải Phẫu của Rouvière, rất khâm phục khi thấy nhiều công trình của thầy Hợp được trích dẫn trong sách này. Chưa có bộ môn Ngoại ngữ. Các bài giảng đã ít xen tiếng Pháp, trừ khi cần chú thích. Một số sách Bệnh học Nội khoa và Điều trị học do thầy Chung viết rất được hoan nghênh vì chất lượng cao và vì văn phong sáng sủa, súc tích. Và rất thực tiễn.

Tại Viện Giải phẫu, đã phá tường ngăn 2 giảng đường nhỏ để tạo thành một giảng đường lớn đủ cho 100 người học (dành cho Y2) và cải tạo một phòng thực tập giải phẫu thành giảng đường 200 chỗ (dành cho Y1). Chính ở đây, sinh viên Quân Y cùng học những môn cơ sở (mà họ chưa được học hồi kháng chiến chống Pháp) với Y1, Y2. Việc tạo ra những “hội trường” rộng lớn chứa hàng trăm người chính là để chuẩn bị cho sự mở rộng đào tạo sắp tới, giống như khẩu hiệu “nhiều, nhanh, tốt, rẻ” du nhập từ Trung Quốc..

Ngày 27.10.1955, Bộ Y Tế phê duyệt “Chế độ thực tập của sinh viên ở bệnh viện”, phương châm nêu lên là: 1) Kết hợp lý thuyết đã học vào thực tiễn lâm sàng; 2) Sinh viên không phải chỉ học mà còn có nhiệm vụ và phải coi mình là cán bộ tập sự, 3) Ngoài thực hành, phải phục vụ người bệnh như "từ mẫu", không coi họ là công cụ và vật thí nghiệm. Ngoài ra, vẫn chia ra 4 cấp sinh viên: tập sự (Y2), thường trực (Y3), điều trị (Y4) và nội trú (Y5). Còn Y6 thì làm luận án. Chế độ thực tập qui định rất cụ thể: sinh viên phải đạt đến yêu cầu nào (mục tiêu) và có nhiệm vụ chức năng gì, kể cả với sinh viên Y2 (đã có nhiệm vụ).

Sinh viên không nhiều, cũng như số nhân viên bệnh viện. Do vậy, thực sự bệnh viện cần sự có mặt của sinh viên. Khi bệnh nhân mới nhập viện, sinh viên Y3 hay Y4 phải làm xong bệnh án, cho thuốc ngay ngày đầu, ghi xét nghiệm và sau đó trình với bác sĩ, xin khám kiểm tra, cho hướng chẩn đoán và hướng điều trị.

Ngày 14.11.1955, Hồ Chủ tịch đến thăm khu Đại học (Lê Thánh Tông), bất ngờ, nên sinh viên tập trung không đông lắm ở sân trường để nghe nói chuyện (đếm trên tấm ảnh còn lưu giữ, có khoảng 100 người). Sau đó, Chủ Tịch thăm bộ môn Ký Sinh Trùng và vài nơi khác của trường. Chưa tìm được bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch ngoài một số dòng tin đăng trên báo Nhân Dân. Tấm ảnh thứ hai còn lại là giáo sư Đặng Văn Ngữ đang trình bày với Chủ Tịch nước về các thí nghiệm của mình.

Một sự kiện là Bộ Y Tế thành lập Hội đồng Nghiên cứu Y học (sau đổi là Hội đồng Cố vấn Y học) do Bộ trưởng làm chủ tịch, giám đốc trường làm tổng thư ký và 18/26 ủy viên là các thầy của trường. Hội đồng đã có một phiên họp tới 3 ngày liền, góp ý với Bộ về phương án và kế hoạch phát triển trường cho đúng vị trí, chức năng của trường Y Dược duy nhất này.

Hội đồng nhận định: trường Y Dược vẫn là cỗ máy hành chính khổng lồ (mà chưa phải cỗ máy cái) vì chỉ có 41 thầy trong tổng số 259 viên chức (tỷ lệ 15%); đã vậy, qui chế của trường chưa làm nổi rõ chế độ thủ trưởng. Về bậc thang chức danh giảng dạy, vẫn nên có 4 nhưng nên đổi tên gọi: trợ lý, giảng viên, phó giáo sư và giáo sư. Có ý kiến đề nghị bỏ luận án vì khó thực hiện trong 1 năm, mà dùng năm Y6 để học thêm chuyên môn, vì: 1) các môn khoa học cơ bản từ nay sẽ không học trước khi vào trường Y, mà “nhét” tất cả vào năm Y1; 2) môn Chính trị - Thời sự chiếm tới 12% tổng số giờ học, tương đương số giờ của 6 hay 8 môn cơ sở cộng lại.
Để tuyển chọn trợ lý, Hội đồng trên yêu cầu ứng viên phải làm nghiên cứu sinh 2 năm (sau khi tốt nghiệp bác sĩ) và sau 8 năm nữa, trợ lý có thể ứng cử phó giáo sư. Quan niệm chung được nhắc lại là: chỉ có giáo sư mới tham dự hội đồng xét chọn giáo sư, chưa có học hàm giáo sư thì không thể đủ hợp thức để ngồi trong hội đồng xét chọn và người ứng cử không bao giờ ngồi trong hội đồng để tự bầu mình. Hội đồng cũng đưa ra phương châm "khoa học hóa Đông Y", sau này bị thay bằng "kết hợp Đông-Tây Y" (và được hiểu rất khác nhau về khái niệm "kết hợp". Cho đến tận bây giờ vẫn chưa ai giải thích đầy đủ về khái niệm kết hợp này)...
Lúc này, trên thế giới do sự phát triển nhanh của khoa học, nhiều trường trước kia chỉ cần học 3 năm là đủ để có bằng cử nhân, nay đã phải tăng lên 4 hay 5 năm mới đủ. Còn để làm luận án tiến sĩ thì 6 hay 7 năm như cũ cũng không đủ, phải hơn nữa. Do vậy mới có ý kiến: học trường y 6 năm là đủ công tác độc lập nhưng không coi là tiến sĩ như trước đây nữa. Muốn có bằng tiến sĩ, sau khi ra trường phải làm nghiên cứu sinh 2 năm và đó là một điều kiện để ứng cử chức danh trợ lý giảng dạy. Quả vậy, ít lâu sau ở Pháp, sau khi học 6 năm có thể ra công tác, còn muốn có bằng tiến sĩ thì phải “thi vào”, sau 3 năm nghiên cứu một đề tài do giáo sư hướng dẫn thì phải “thi ra” tức là bảo vệ luận án. Các ngành khác cũng tốn số thời gian tương tự. ở Mỹ, để có bằng tiến sĩ y học cũng phải mất 8 năm học ở trường đại học, còn tiến sĩ triết học phải 8 hay 9 năm. Rõ ràng, các thầy ở trường ta cũng phải giải quyết vấn đề này. Có thể nói, từ nay danh hiệu bác sĩ ở Việt nam (cũng như thế giới) thực chất không còn là danh hiệu tiến sĩ như trước nữa. “Bác sĩ” chỉ còn nghĩa là người có nghề thầy thuốc sau khi học 6 năm đại học Y, đúng như quan niệm hiện nay.

Cuối năm học, hàng trăm tấn hàng viện trợ từ Liên Xô đã từng chuyến về trường, chủ yếu là hóa chất, trang thiết bị cho các bộ môn cơ sở, khiến cho bộ mặt của trường có sự thay đổi lớn. Đúng với quan niệm của các nhà soạn thảo chương trình, các bộ môn cơ sở được đặt đúng vị trí, có vai trò ngày càng quan trọng trong đào tạo và nghiên cứu, từ đó nâng cao thêm chất lượng giảng dạy, chẩn đoán, điều trị của các bộ môn lâm sàng. Thầy Di từng nói: “trường đại học Y Dược khoa chỉ có thể tự hào chính đáng nếu có các bộ môn cơ sở vững mạnh, đạt trình độ hiện đại”. Một chuyên gia y tế Bungari cho rằng thiết bị của trường Hà Nội còn hơn của trường Sôphia. Tuy vậy, không rõ do nguyên nhân nào mà trong số hàng viện trợ có hàng chục tấn cacbônat, bicacbônat chưa biết sẽ dùng làm gì, không có kho chứa và phí vận chuyển từ biên giới về rất đắt. Mấy năm sau vẫn không ai làm rõ nguyên nhân, nhất là khi trường ta bị cuốn hút vào cuộc vận động chính trị rất sôi động, việc giảng dạy phải đình hoãn lại trong nhiều tháng mỗi năm học.

Một sự kiện lớn đối với ngành đại học là ngày 6.3.1956, Bộ trưởng Bộ Giáo Dục ký nghị định thành lập 5 trường đại học. Năm trường có tên trong Quyết Định thành lập là: Bách Khoa, Nông Lâm, Sư Phạm, Tổng Hợp và Y Dược. Tuy nhiên đối với trường ta, sự kiện không gây những tác động to lớn về tổ chức, suy nghĩ, tình cảm như đối với các trường bạn. Không có mít tinh đón mừng, không có liên hoan, không treo cờ, chăng biểu ngữ...

Với tư liệu hiện có, điều khác lạ là một Bộ lại có thẩm quyền ra quyết định thành lập một lúc 5 trường đại học (khác hẳn khi thành lập trường Y Đông Dương). Sau đó 3 tháng (cụ thể là ngày 4.6 năm đó) lại có công văn số 2183/TC của thủ tướng “cho phép” (bộ Giáo Dục làm việc trên?). Đến nay, có vài trường trong khối đại học khi kỷ niệm 35 năm thành lập (1991) cũng coi ngày 4.6.1955 là ngày ra đời, chứ không lấy ngày 3.3.1955. Bách khoa và Nông-Lâm có thể coi là các trường mới (mặc dù thời Pháp thuộc đã có các trường Công Chính, Canh Nông, Lâm nghiệp...; nhưng sau cách mạng tháng Tám và nhất là suốt trong 8 năm kháng chiến các trường đó không tồn tại nổi, do vậy hai trường này cắt được cái đuôi quá khứ, và là trường “mới”). Còn đại học Sư phạm thực chất là sự hợp nhất, mở rộng và nâng cấp các trường đang có sẵn (bắt nguồn từ thời Pháp thuộc); trường Tổng Hợp cũng là sự hợp nhất, mở rộng các trường Văn Khoa và Khoa Học hiện có (và tiếp quản các trường này của Hà Nội tạm chiếm). Nhưng do muốn cắt đứt với quá khứ (bị coi là do đế quốc thành lập nhằm nô dịch dân ta) nên hai trường này cũng coi năm 1956 là năm khởi đầu và đã tổ chức các lễ kỷ niệm lớn sau đó 30, 35 và 40 năm (1986, 1991, 1996). Với trường Y Dược, hai năm có ý nghĩa là 1902 và 1945, còn năm 1956 chỉ là năm "nhắc lại sự tồn tại", không gây bất cứ ấn tượng gì với thầy trò nhà trường - ngay hồi ấy, cũng như bây giờ. Chính vì vậy, đội ngũ giảng dạy ở 4 trường bạn còn quá mới mẻ vào những năm 1960 nên rất lâu về sau, việc phong học hàm mới đặt ra cho toàn ngành đại học. Việc này, trường Y Dược mong muốn làm sớm, và đã thử làm, nhưng trở thành việc làm đơn độc; cuối cùng bị phê phán nặng nề ngay từ trong nội bộ.
Nhân đây, cần ghi nhận sự sáng suốt khi năm 1962, ông Phan Huy Chữ, bí thư đảng uỷ, chỉ thị viết lịch sử 60 năm của trường nhưng chưa nhìn nhận được một cách toàn diện về Trường trong giai đoạn thuộc Pháp.

NĂM HỌC 1956-1957

Số bác sĩ ra trường là 60, gồm các sinh viên kháng chiến vào trường từ năm 1950 hay trước đó không lâu và 2 sinh viên Y6 học trong nội thành từ trước; số dược sĩ ra trường là 30, gồm các lớp “quân dược” và lớp D4 trong nội thành cũ (nay gọi là D5). Ngày nay đây là con số quá nhỏ bé, nhưng hồi đó ý nghĩa của nó được thể hiện đầy đủ trên báo chí. Còn số tuyển sinh thì tăng vọt: 308 vào Y1 và trên 100 vào D1, nâng tổng số sinh viên chính qui lên tới 720, nếu kể các đối tượng khác thì có lúc lên tới 897, gấp 2,25 lần năm học trước. Việc xây những “hội trường” lớn (không gọi là giảng đường hay đại giảng đường) là dành cho các lớp mới tuyển. Trên 300 sinh viên Y1 được học chung trong một lớp mà không chia nhỏ thì khó tránh khỏi những lúc lộn xộn. Lớp Y1 đông chưa từng có đã gây nhiều khó khăn cho việc tổ chức học tập và gánh nặng quá tải vẫn đè nặng lên vai đội ngũ giảng dạy và khối hậu cần.

Số thầy thuộc biên chế trường đã đạt 41 nhưng số thầy ngoài biên chế lên tới 73, có lúc tới 86 và giữ vững tới cuối năm (tổng cộng 127 người theo thống kê ngày 4.6.1957).

Về các thầy, đông đảo nhất là bộ môn Ngoại của giáo sư Tôn Thất Tùng (lúc ấy vẫn còn làm thứ trưởng) cả thảy 10 người, rồi đến bộ môn Nội (giáo sư Đặng Văn Chung) tới 7 người. Cũng có bộ môn chỉ có 1 người như bộ môn Tinh-Thần kinh (bác sĩ Nguyễn Quốc ánh), thậm chí đó là một người ngoài biên chế trường, như bộ môn Nhi (bác sĩ Chu Văn Tường), Sản Phụ (giáo sư Đinh Văn Thắng), Y Pháp (bác sĩ Trương Cam Cống), Tổ chức Y tế (bác sĩ Phạm Ngọc Thạch). Bộ môn Chính trị mới thành lập do ông Nguyễn Yến phụ trách, có các ông Võ Thuần Nho, Lê Thanh Phong, v.v.. Bộ môn Y học Thể dục do bác sĩ Nguyễn Văn Tín phụ trách, có lực sĩ (y sĩ) Vũ Quang Tiệp trợ giúp nhưng thực chất chỉ dạy các bài thể dục thường, rất ít dính dáng tới y học. Ngoại ngữ chưa thành bộ môn, trường mời linh mục Nguyễn Văn Vinh, dược sĩ Nguyễn Sĩ Dư dạy tiếng latinh và ông Vân Lăng dạy tiếng Nga.

Số sách 5.000 cuốn do Liên Xô tặng đã khuyến khích sinh viên học tiếng Nga, kết quả đạt tốt nhất là số sinh viên Y2 (Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Ngô Kiêm, Đỗ Đình Hồ, Lê Nam Trà...).

Số bộ môn ở “ban” Y lên tới trên 20, do có nhiều bộ môn mới thành lập: Tinh-Thần Kinh, Chính Trị và Sinh Lý Bệnh. Môn Sinh Lý Bệnh là nét đặc trưng của chương trình Liên Xô, kế thừa từ thời Nga hoàng, có nội dung tương tự các môn bệnh lý học chức năng, Y học thực nghiệm và Bệnh lý đại cương trong chương trình Pháp. Chỉ có thế, nhưng khi trường áp dụng chương trình Liên Xô thì môn này rất được coi trọng. Khá nhiều triết lý được vận dụng khi nói về bệnh và cơ chế sinh bệnh (nhất là phần đại cương).

Năm học này (1956-1957) có nhiều biến cố ảnh hưởng tới các trường đại học: sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất được thừa nhận công khai; bạo động ở Hungari; chính quyền Sài Gòn cự tuyệt tuyển cử, hô hào "Bắc tiến"; đê sông Hồng bị vỡ ở Mai Lâm, gây ngập lụt một vùng; một số văn nghệ sĩ, một số học giả và sinh viên khoa Văn đã xuất bản báo Nhân Văn và các ấn phẩm Giai Phẩm mùa Xuân, Đất Mới, trong đó phê phán lãnh đạo, đòi mở rộng dân chủ, tự do... được sinh viên tò mò tìm đọc. Trong bối cảnh đó, có sự bàn tán xôn xao ở các trường, phát ngôn tùy tiện và đả kích lãnh đạo, khá lộn xộn. Nhưng ảnh hưởng tới trường Y lại không lớn so với ở các trường khác. Tuy nhiên, đúng lúc này, việc áp dụng chương trình Liên Xô thay cho chương trình Pháp ở trường ta đã diễn ra không suôn sẻ. Nay xem lại, điểm khác nổi bật chỉ là “chương trình Pháp” (mà thầy Di đã sửa đổi nhiều) thì cho sinh viên đi bệnh viện rất sớm, còn chương trình do chuyên gia Nga soạn giúp (ta gọi đó là chương trình Liên Xô) thì năm thứ ba sinh viên mới tới bệnh viện. Phản đối mạnh nhất là các lớp Y1, Y2 (là những lớp áp dụng từ đầu chương trình Liên Xô) với kiến nghị: xin đi bệnh viện từ Y2 chứ không đợi đến từ Y3 như chương trình Liên Xô qui định : vì họ lo luận án.

"Chương trình Liên Xô" do nhóm chuyên gia Kupaxôp vạch ra theo yêu cầu của trường; còn “chương trình Pháp” do các thầy trụ cột của trường vạch ra, bằng cách cải tiến chương trình cũ (tăng cường các môn cơ sở) và có thêm môn Chính trị, Vệ Sinh. Đến nay, rất khó thấy có sự khác nhau căn bản nào giữa hai chương trình trên. Chúng có cùng một mặt bằng kiến thức, trong đó, đa số các môn học truyền thống có tên giống nhau và nội dung cũng tương tự nhau. Có lẽ điều khác nhau cơ bản là “chương trình Pháp” đòi hỏi sinh viên phải sớm đi bệnh viện, còn “chương trình Liên Xô” thì để việc đó đến năm thứ 3. Việc để sinh viên Y3 mới đi bệnh viện là phù hợp với tình hình Liên Xô đã đủ bác sĩ, và bác sĩ của họ ra trường không phải công tác độc lập nữa. ở Pháp, lúc đó cũng có xu hướng như vậy, kể cả xu hướng bỏ luận án, nhưng ta không có thông tin. Sinh viên Y1, Y2, khoảng 18-21 tuổi, không thể biết nội dung hai chương trình khác nhau đến đâu. Điều họ thấy trước mắt là nếu không được đến bệnh viện từ Y1 hay Y2, thì chất lượng luận án sẽ giảm và lo lắng khi công tác độc lập ở tuyến tỉnh. Sự lo lắng này rất có cơ sở. Suốt từ năm 1956 đến 1960, bộ trưởng Hoàng Tích Trý, và sau đó là bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch, vẫn phải bổ nhiệm hàng chục y sĩ (và người ngoài ngành Y) làm trưởng hoặc phó ty Y tế các tỉnh, nhiều tỉnh chưa có bác sĩ nào.
Vài ví dụ: năm 1960, phó trưởng ty Y tế các tỉnh Bắc Cạn, Hải Dương, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hòa Bình, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây... đều là y sĩ mới được bổ nhiệm. Các trưởng ty Y tế Hà Đông, Bắc Ninh, Hồng Quảng... cũng là y sĩ hoặc người ngoài ngành Y. Chẳng hạn ngày 30.3.1960, ông Phạm Ngọc Lan, chủ tịch huyện và ông Phạm Hữu Quý (ngoài ngành) được bổ nhiệm phó và trưởng ty Y tế Hưng Yên, Hà Đông. Ngày 21 và 26.9.1960, ông Đặng Văn Sâm (chủ tịch thị xã), ông Phạm Khang (ở ủy ban tỉnh) được cử làm phó và trưởng ty Y tế Vĩnh Yên, Hồng Quảng. Đến 1960, tỉnh Lạng Sơn mới có một bác sĩ về công tác (ra trường 1960, được uỷ ban tỉnh đưa xe về tận Hà Nội “rước” về). Lớp Y2 niên khóa 1956-1957 khi ra trường (1960) đã đảm nhiệm chức vụ trưởng khoa, kể cả khoa Ngoại-Sản của bệnh viện tỉnh.
Do vậy, việc họ xin đi bệnh viện sớm là rất đúng và rất phù hợp với tình hình thực tế hồi đó, nhất là khi họ đã thanh toán các môn Lý, Hóa, Sinh trước khi vào Y1.

Năm học này, trường được cấp kinh phí 507.888.883 đồng, tính ra mỗi đầu sinh viên có khoản kinh phí tương đương 1.000kg gạo. Tuy nhiên, giá cả ở thị trường tự do đang tăng nhanh chóng, càng về cuối năm học số kinh phí trên càng không còn giữ được giá trị ban đầu nữa. Ngoài ra còn có thêm khoản tiền 150 triệu đồng để xây hai hội trường lớn ở hai bên cánh Viện Giải Phẫu, chứa được 300 và 700 người sắp được thực thi nhưng hội trường 700 chỗ bị phá bỏ năm 1992 để xây Viện Dinh Dưỡng, còn hội trường 300 nay là toà chung cư của đại học Dược. Chưa có đất xây ký túc xá, sinh viên Y Dược vẫn ở chung với sinh viên nhiều trường tại khu Việt Nam Học Xá cũ, sau đó ở chung ký túc xá với sinh viên Tổng Hợp ở cuối phố Lò Đúc, gần “cây đa nhà bò”.

Giá cả thị trường bắt đầu tăng. Một số mặt hàng trở nên khó mua: xi măng, sắt, gạch men (để làm bàn cho labô), hàng hóa xấu đi, đời sống nhân dân và trí thức khó khăn hơn. Người trí thức vẫn mặc cảm khi bị xếp trong thành phần tiểu tư sản.

Các bài chính trị nói rõ giai cấp tiểu tư sản là bấp bênh, giao động, “tự phát lên tư sản”, do vậy cần được công nông cải tạo. Trí thức, cán bộ, viên chức, tiểu thương, thầy giáo, học sinh, thợ thủ công... bị gộp chung là tầng lớp tiểu tư sản. Dẫu sao, trí thức trường Y vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ năm học đầy biến động và rất quá tải này. Một số thầy được bổ nhiệm viện trưởng các viện Sốt rét, Mắt, chống Lao... và lãnh đạo các chương trình tiêu diệt các bệnh hoa liễu, sốt rét, mắt hột, lao... trên phạm vi toàn miền Bắc (Đặng Vũ Hỷ, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Xuân Nguyên, Phạm Ngọc Thạch...).

Việc giao lưu khoa học với nước ngoài rất ít ỏi và hạn hẹp, ngay cả với các nước thuộc phe ta. Thủ tục khó khăn, phải xin phép cấp chính quyền cao nhất từ nhiều tháng trước, phải được học tập nội qui và căn dặn trước khi lên đường, kể cả đoàn của thầy Hồ Đắc Di (gồm thầy Tước, thầy Cơ) đi Pháp, hoặc đoàn các thầy Hoàng Sử, Đặng Vũ Hỷ, Đỗ Tất Lợi đi Liên Xô... Cũng do vậy, việc tiếp xúc trực tiếp với người nước ngoài rất bị hạn chế.

Các lớp thi lần đầu đạt 69%, được lên lớp, còn 224 người phải thi lại. Trong báo cáo tổng kết, giáo sư Hồ Đắc Di lại một lần nữa đặt vấn đề: phải chăng các thầy quá dễ dãi, chưa kiên quyết duy trì chất lượng, đã để cho sinh viên qua được các kỳ thi một cách không đúng sức học? Và nhắc nhở: phải thấy rằng đồng bào sẽ chịu những hậu quả do sự dễ dãi của các thầy.

NĂM HỌC 1957-1958

Số sinh viên vào Y1, D1 chỉ gần bằng 60% số tuyển sinh của năm học trước mà lý do chủ yếu là sự quá tải đối với đội ngũ thầy, cũng như cơ sở vật chất của trường không sao kham nổi. Tiêu chuẩn tuyển chọn có thay đổi: không chỉ thuần túy học lực (lúc đó gọi là văn hóa), mà còn tiêu chuẩn chính trị. Do vậy thành phần sinh viên đã rất khác trước, với tỷ lệ cán bộ, bộ đội đi học rất cao. Bỏ hẳn lệ công khai công bố điểm thi, ai nhận được “giấy gọi” thì biết mình “đỗ”, chờ lâu không thấy giấy gọi thì tự suy ra mình không đậu. Nhiều người không biết vì sao mình trượt và đỗ.

Đặc biệt, nhiều sinh viên vào trường đã là y sĩ, có quân hàm trung úy, thượng úy (Ngô Thế Phương, Nguyễn Hữu Chấn, Dương Hữu Lợi...), nghĩa là học trung cấp mà lại có quân hàm cao hơn BS quân y tốt nghiệp đại học trước đó. Năm 1957, nói chung bác sĩ mới ra trường được xếp cấp bậc trung úy, về sau còn hạ xuống thiếu uý; do vậy số sinh viên nói trên sau 6 năm học tập, ra bác sĩ, lại bị... tụt lương; khá lâu về sau mới được “điều chỉnh” lại.
Cũng từ năm 1957 này, bác sĩ ra trường không phải làm luận án nữa. Trên thế giới, nhiều nước cũng như vậy; bằng bác sĩ chỉ còn giá trị như bằng cử nhân.

Tổng số sinh viên là 912, tăng hơn năm trước 200 người. Có thêm các bộ môn: Lao (bác sĩ Phạm Khắc Quảng, Đào Đình Đức), Phẫu thuật chung (bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ, Đặng Kim Châu, Nguyễn Thường Xuân, Nguyễn Bửu Triều...), tách Vệ sinh - Vi trùng thành hai bộ môn riêng (bác sĩ Hoàng Tích Mịnh, giáo sư Hoàng Tích Trý). Đặc biệt, môn Chính trị (tên gọi hồi đó) được củng cố, có thêm biên chế (ông Lê Thanh Phong) và sinh viên bắt đầu được học chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, kinh tế-chính trị học... thay cho đường lối, chính sách, thời sự. Đây là một bước tiến lớn, cần ghi nhận.

Sinh viên vẫn rất sợ môn Chính trị vì khó ghi, thầy giảng như một buổi nói chuyện nhưng lại không có sách. Tuy vậy, cán bộ đi học và công nông ít lo trượt môn này, mà chỉ lo trượt chuyên môn. Phương pháp sư phạm của nhiều thầy còn yếu, tuy nhiên, sinh viên vẫn rất khen các thầy Võ Thuần Nho, Trần Văn Giàu, Việt Phương... (đều là các thầy ngoài biên chế, được mời giảng). Do vậy, những sinh viên được điểm 9 về môn này trở thành "nổi tiếng" trong trường (Nguyễn Ngọc Lanh, Đỗ Nguyễn Phương...), nhưng cạnh đó, nhiều sinh viên không hiểu vì sao mình không đạt 5 điểm. Từ năm học này, môn Chính trị chiếm 10 - 12% số giờ toàn khóa, chính thức trở thành 1 trong 2 môn sinh viên phải thi trong kỳ thi tốt nghiệp; đến thời kỳ đổi mới mới thay đổi được.

Tổng số bộ môn của khoa Y là 23, với 87 thầy nhưng đa số vẫn không thuộc biên chế trường, có bộ môn 6, 7 thầy mà không ai thuộc biên chế trường (Giải phẫu, Ngoại, Vệ sinh, Sinh lý bệnh...).

Năm học 1957-1958 là năm toàn ngành đại học có những biện pháp mạnh mẽ về hành chính, tổ chức, tư tưởng, nhằm dẹp bỏ tình trạng lộn xộn trong phát ngôn và trong ý thức; đấu tranh mạnh mẽ với các tư tưởng không phù hợp và trấn áp những người phá rối. Sau khi tập hợp tình hình tư tưởng sinh viên, phòng Tổ chức cán bộ của trường đã báo cáo lên cấp trên (Công văn 467 YD-TCCB ngày 10.12.1957); theo đó thì tình hình tư tưởng ở trường Y Dược tuy có vấn đề nhưng không quá nghiêm trọng.

Ngày 6.1.1958, trường lập ban Điều chỉnh biên chế, với nhiệm vụ rà soát, sắp xếp biên chế các đơn vị, thuyên chuyển một số đi nơi khác, trong đó có một số về hẳn nông thôn để xây dựng hợp tác xã nông nghiệp (mà khi đó ta bắt đầu phát triển đại trà, ồ ạt). Tháng 2, Đảng bộ (90 đảng viên) chuẩn bị cuộc chỉnh huấn trong toàn trường. Tháng 3, toàn thể thầy và sinh viên ngừng dạy, ngừng học trong 3 tuần lễ để học tập hai Văn kiện của các đảng Cộng sản (họp và ký ở Mát-xcơ-va; nên gọi tắt là “Hai Văn kiện Mascơva”). Mục đích của chỉnh huấn là để mọi người thấy rõ sự đoàn kết và lớn mạnh của phong trào cộng sản quốc tế, là lực lượng lãnh đạo nhân loại đánh đổ vĩnh viễn chế độ bóc lột của chủ nghĩa đế quốc và chế độ thực dân, lúc đó đã phát triển đến tột cùng và đang suy tàn, tan rã từng mảng. Phe xã hội chủ nghĩa lớn mạnh trở thành nhân tố quyết định xu hướng phát triển của thời đại, của loài người.

Một số sự kiện trong nước và quốc tế giúp cho các cuộc chỉnh huấn 57-58 đạt kết quả mong muốn: cuộc chính biến ở Hungari bị đè bẹp; những người liên quan vụ "Nhân Văn - Giai phẩm" bị phê pháp rộng khắp trên các báo, bị xử lý; các dược sĩ sản xuất tư bị kiểm tra, kỷ luật, đình chỉ kinh doanh vì vi phạm qui chế; các bác sĩ mở phòng mạch tư bị phê phán gay gắt... Trường ta có 4 thầy là dược sĩ do liên quan đã bị kỷ luật nặng ở các mức: đi cơ quan khác, hạ bậc lương, có người bị hạ ba bậc lương, hoặc bị đuổi khỏi biên chế.

Năm đó, báo cáo tổng kết năm học (đọc ngày 3.7.1958) có nội dung và lời văn khác hẳn các năm trước. Nội dung không chỉ bó hẹp trong năm học 57-58 mà là 3 năm (1955-1958); còn lời văn rất đanh thép, gây ấn tượng rất mạnh. Phần giảng dạy, nghiên cứu chỉ nhắc sơ sài mà tập trung chủ yếu vào tình hình tư tưởng: tư tưởng đế quốc, tư sản còn rơi rớt cần đả phá quyết liệt; cần phê phán mạnh mẽ tư tưởng tiểu tư sản để tư tưởng mới chiếm lĩnh vị trí thống trị trong trường.

Nói tóm tắt, báo cáo tổng kết 3 năm (1955-1958) cho biết: đường lối giáo dục của tư sản, đế quốc và thực dân để lại ở trường ta là một di sản nặng nề. Các biến cố vừa qua đã tạo ra những khó khân, bị các phần tử lạc hậu trong trường lợi dụng để “ngóc đầu dậy”, phá rối lãnh đạo. Các nước bạn đã viện trợ ta tuy về vật chất rất to lớn, nhưng quí báu nhất là các kinh nghiệm cho một chương trình đào tạo theo đường lối, phương châm xã hội chủ nghĩa. Tàn tích xấu xa của chế độ cũ bắt đầu bị phá sản. Toàn trường ta kiên quyết tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Các phần tử không chịu cải tạo đã bị đuổi khỏi trường. Tuy nhiên, về lập trường, chúng ta còn nhiều thiếu sót. Đó là: chưa hiểu sâu sắc, toàn diện về bản chất, nội dung và đòi hỏi của giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay; chưa phân định ranh giới giữa tư tưởng đế quốc, phong kiến, thực dân với tư tưởng xã hội chủ nghĩa; còn hoài nghi, cho là chế độ hiện nay chưa thật dân chủ, chưa coi trọng trí thức, đời sống thấp hơn trước; còn hoài nghi năng lực lãnh đạo của Đảng, còn nghi ngờ vai trò lãnh đạo của Liên Xô; cho là ta tiến lên chủ nghĩa xã hội quá vội, chưa tin chúng ta hoàn toàn có thể thống nhất nước nhà bằng con đường hòa bình. Còn về tư tưởng, chưa tích cực chống và quét sạch tàn dư tư tưởng đế quốc, phong kiến, tư sản Tiếp đó báo cáo dành 7 trang nói rõ những việc phải làm để sửa chữa. Như vậy, đây là một báo cáo đề dẫn đến một cuộc chỉnh huấn lớn thứ hai trong năm học.

Toàn trường đã tập trung học tập, thảo luận báo cáo nói trên, mỗi người đều tự liên hệ và tự kiểm điểm. Hầu hết ai cũng muốn chứng minh sự chuyển biến lớn trong tư tưởng mình. Sinh viên, cán bộ rất lạc quan, phấn khởi là sẽ được chứng kiến tận mắt sự sụp đổ của hệ thống tư bản chủ nghĩa, cùng góp công xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thành hiện thực một ngày không xa. Cũng có nhiều người lo lắng, sợ bị thành kiến và sẽ qui chụp sau này - do một vài phát ngôn và hành động thiếu suy nghĩ trước đây.

Lớp Y2 năm đó (lớp trưởng: Trương Văn Hợi) bị đuổi học một số khá lớn và tiếp tục bị đuổi học trong cả những năm về sau, kể cả tuy không đuổi học nhưng không công nhận tốt nghiệp. Khi vào trường, lớp này có 306, ra trường chỉ còn 224. Lớp Y3 khi tốt nghiệp xong, có 12 người không được công nhận (sau này đã được công nhận lại gần hết, trừ một người mất sớm). Lớp Y4 cũng bị đuổi một số. Riêng lớp Y1 năm đó, do tăng cường tuyển chọn thành phần công nông nên hầu như lên lớp và tốt nghiệp nguyên vẹn.

1958 - 1960: NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THEO CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Ngoài xã hội, sau vài năm khuyến khích kinh doanh, giai cấp tư sản bị nhận định là đã hết vai trò tích cực và cần thi hành chính sách cải tạo: đưa các xí nghiệp, cửa hàng của họ vào hợp doanh, sau ít lâu thì chuyển thành sở hữu Nhà nước. Nhiều nhà tư sản lo cho tương lai con cái đã xin hiến tài sản, nhà cửa. Cuộc đổi tiền bất ngờ (theo tỷ giá một đồng tiền mới giá trị bằng 1.000 đồng Ngân hàng cũ) đã được tiến hành nhằm khắc phục lạm phát và đồng thời hỗ trợ cuộc cải tạo tư sản. Thị trường tự do bị xoá bỏ, trong đó có khám bệnh tư, hiệu thuốc tư nhân, kể cả thuốc gia truyền.

Trong trường, ngay từ đầu năm học đã có cuộc chỉnh huấn mới kéo dài hơn một tháng (thực tế là gần hai tháng) nhằm xác định trường đại học là pháo đài và công cụ của chủ nghĩa xã hội, là bộ phận của chuyên chính vô sản... Phải thấm nhuần phương châm giáo dục và y tế của Đảng. Sinh viên Y1, với 70% là công nông, số còn lại là tiểu tư sản (con cái gia đình công chức, thợ thủ công, dân nghèo, buôn bán nhỏ) cũng chưa được học chuyên môn mà vẫn phải tham gia chỉnh huấn.

Một mục tiêu của cuộc chỉnh huấn là “quét sạch tư tưởng đế quốc, phong kiến, chống tư tưởng tư sản, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, xác định vững chắc tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các phương châm giáo dục, y tế”
Phương châm giáo dục gồm có: 1) giáo dục kết hợp với lao động sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất; 2) lý luận kết hợp với thực tiễn (câu nói nổi tiếng phê phán lý luận không đi đôi với việc làm của chủ tịch Mao Trạch Đông luôn luôn được nhắc lại.
Các phương châm y tế là: 1) y tế phục vụ công nông và nhân dân lao động; 2) phòng bệnh là chính; 3) chữa bệnh toàn diện; 4) kết hợp Đông-Tây Y; 5) Y tế đi đường lối quần chúng.
Toàn trường được nghe báo cáo về hành vi phản động của nhóm "Nhân Văn - Giai phẩm", những người thuộc nhóm này bị vạch mặt, đả kích và xử lý nặng: Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm... Một số học giả cũng bị phê phán nặng nề trên báo (Trương Tửu, Trần Đức Thảo), hoặc bị kiểm điểm (Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh...)

Sau gần hai tháng học tập, kết quả chỉnh huấn được đánh giá chính thức là tốt đẹp; trường Y Dược quí tộc đã trở thành trường của công nông; vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng (kể cả trong chuyên môn) được xác lập

Song song với chỉnh huấn cải tạo tư tưởng, thành phần sinh viên cũng được cải tạo (tuyển 320, trong đó 70% là công nông, chia thành 2 lớp, 16 tổ). Cũng từ năm học này, ngoài việc không công khai điểm thi tuyển sinh, trường còn thành lập "Hội đồng thẩm định tư cách chính trị", tồn tại và hoạt động song song với Hội đồng giám khảo. Đến nay chưa tìm được tư liệu cho biết Hội đồng nào trong hai hội đồng trên có vai trò quyết định tối hậu khi tuyển sinh. Phải hai chục năm sau Bộ trưởng Tạ Quang Bửu mới phục hồi lại việc công khai hoá điểm thi tuyển sinh, do vậy thí sinh mới có quyền khiếu nại.

Trường cũng thay đổi đội ngũ giảng dạy: đưa trả về bệnh viện một số thầy và đưa về trường nhiều thầy từ quân y, cán bộ kháng chiến và các bác sĩ trẻ mới ra trường. Số lượng thầy trong biên chế trường tăng lên mạnh mẽ. Cụ thể, năm 1959 có 5 bác sĩ khóa 1952 về trường (Nguyễn Thấu, Phạm Phan Địch...), 6 bác sĩ khác là sinh viên "nội thành" đã đi thực tế 6 tháng cũng được nhận (Nguyễn Hữu Hồng, Dương Thị Cương, Trịnh Văn Minh, Vũ Văn Đính, Nguyễn Quang Quyền...). Cuối năm (9.12.1959) nhận 15 bác sĩ quân y từ khóa 1945 đến khóa 1950, gồm 12 đại úy (Bạch Quốc Tuyên, Vi Huyền Trác, Đỗ Doãn Đại, Lê Kinh Duệ, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Bửu Triều, Vũ Triệu An,...), 2 thượng úy (Lê Vĩ Hùng, Đặng Hanh Phức) và 1 trung úy (Vũ Đình Hải). Ngày 31.12.1959, 5 thầy kỳ cựu được chuyển hẳn biên chế về trường: Đinh Văn Thắng, Phạm Khắc Quảng, Trương Cam Cống, Nguyễn Văn Thủ, Hoàng Sử.

Nói thêm: Khóa ra trường tháng 1.1960 được giữ lại gần 30 người (Lê Thành Uyên, Đào Văn Chinh, Nguyễn Văn Thành, Ninh Đức Dự, Phan Thị Phi Phi, Nguyễn Thị Xiêm...) và khóa tốt nghiệp tháng 10.1960 được giữ lại 65 người (Phạm Hoàng Thế, Trần Đức Thọ, Phạm Gia Khải, Dương Chạm Uyên, Đỗ Đức Vân, Đỗ Nguyễn Phương, Nguyễn Ngọc Lanh, Ngô Đình Mạc, Nguyễn Chương, Ngô ngọc Liễn, Đào văn Phan, Đỗ Kính, Nguyễn Đình Hối, Võ Phụng, Đặng Hanh Đệ, Trần ngọc Ân, Nguyễn Khánh Trạch, Lê Đăng Ha...). Họ trở thành lực lượng chủ yếu hướng dẫn các tổ sinh viên thực tập, ở lâm sàng cũng như ở labô, từ Y1 đến Y4. Các thầy trẻ này đang trong quá trình phấn đấu mọi mặt, nhiều khi rất kiêng dè một số sinh viên là cán bộ, đảng viên đi học vì sự kiêu ngạo, công thần và ỷ lại lý lịch, thành phần... của các sinh viên đó.

Học kỳ I, năm học 1958-1959 vừa bắt đầu chưa lâu thì Chính phủ, Bộ Y Tế chủ trương đưa sinh viên về nông thôn (lúc này vừa hoàn thành cải cách ruộng đất, đang xây dựng tổ đổi công, để tiến lên hợp tác xã) để rèn luyện thực tế.

Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch gửi thông tư đi 4 tỉnh, nói rõ 3 mục đích của sinh viên y khoa về nông thôn, gồm: 1) học tập thực tế và bồi bổ tri thức và quan điểm; 2) học tập nông dân trong lao động để xây dựng tư tưởng, lập trường; 3) góp phần tích cực phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trước đó, từ tháng 8.1958, Bộ Y Tế cũng qui định sinh viên Y Dược phải đi thực tế trước khi thi tốt nghiệp hoặc trước khi làm luận án, do vậy khóa sinh viên 1952-1958 đã ra trường muộn hơn dự định gần một năm, một số đến giữa năm 1959 mới nhận công tác ở trường.

Đợt lao động này, trường Y Dược được phân về huyện Kim Thành, Hải Dương, với hàng ngàn sinh viên từ Y1 đến Y5 và nhiều thầy. Số kinh phí bỏ ra không nhỏ. Thầy trò đã thấy được mức sống thấp kém của nông dân (khoảng 300-350kg thóc mỗi đầu người), bệnh tật rất phổ biến, văn hóa thấp, tập quán lạc hậu, vệ sinh rất kém. Đã thu được một số thành công trong vận động giữ vệ sinh, làm hố xí, uống nước sôi... nhưng thất bại trong vận động nông dân cấy dày, cày sâu 50cm theo các bài học từ Trung Quốc do báo chí đưa tin và giảng viên chính trị Việt Phương hướng dẫn trước khi đi. Nói chung, sinh viên rất thích thú khi toàn trường được tạm ngừng học tập, thay đổi môi trường, nhất là những người xưa nay chỉ ở trong thành phố. Tổng kết đợt lao động, mọi người đều viết bản thu họach; qua đó có sự đánh giá là thắng lợi lớn về tư tưởng và dự định mỗi năm sẽ đi lao động 2 tháng. Nhưng học kỳ I bắt đầu rất muộn, lúc này đã sắp tết âm lịch. Thời khóa biểu sắp xếp khó khăn, nhiều chỗ bị đảo lộn, dồn nén; thi cử rất cập rập, chất lượng chuyên môn bị ảnh hưởng nặng nề, nhưng theo báo cáo sơ kết thì chất lượng toàn diện được đánh giá rất cao.

Cuối cùng, có hai nhận định khi tổng kết năm học: 1) các thầy chưa tham khảo được sách y học tiên tiến của Liên Xô mà vẫn dựa vào tài liệu tư bản để soạn bài; 2) đồng thời chưa kết hợp được Đông-Tây Y. Nhận định thứ nhất được khắc phục tốt khi nguồn sách từ các nước tư bản không còn, chỉ còn nguồn chủ yếu là sách Nga; còn nhận định thứ hai vẫn tiếp tục tồn tại cho đến nay.

Năm học này, ông Phan Huy Chữ, bí thư Đảng ủy (và là chủ nhiệm Hành Chính cũ, một chức danh từ hồi trường ở Chiêm Hoá) được bổ nhiệm phó giám đốc trường. Một phó giám đốc chính trị nữa là ông Mai Văn Bộ, phó bí thư đảng uỷ. Ông vốn cựu sinh viên Y, bỏ học đi hoạt động cách mạng từ trước 1945, nay được coi là nhân vật chủ chốt, là linh hồn của các cuộc chỉnh huấn và cải cách ở trường. Ông chủ trì một đề án lớn về sắp xếp, chấn chỉnh lại tổ chức nhà trường, sao cho từ 33 bộ môn và 4 môn học (là Thể dục, Ngoại ngữ, Tổ chức Y tế và Tổ chức Dược chính: chưa được coi là bộ môn) biến thành một đơn vị có tổ chức gọn nhẹ, hiệu lực. Nhưng sau 1 năm, thậm chí 2 năm, kết quả vẫn không như ý.

Phương hướng, nội dung của đề án do ông soạn thảo và chính ông trực tiếp chỉ huy sự thực hiện là: 1) xoá bỏ một số đơn vị, trước mắt là bỏ Hội đồng giáo sư (được xem là chịu ảnh hưởng cách tổ chức tư sản, có quyền quá lớn về học thuật); 2) nhập một số bộ môn (Hóa sinh-Hóa lý-Hóa giao-Hóa phân tích thành một đơn vị; Dược liệu-Thực vật thành một đợn vị khác; Hóa dược-Hóa hữu cơ-Hóa vô cơ cũng gộp lại để thành đơn vị thứ ba; Bào chế-Vật lý-Toán-Dụng cụ y học; rồi Sinh lý-Sinh lý bệnh; Y pháp-Mô phôi-Giải phẫu bệnh là một đơn vị; Nội cơ sở-Nội lâm sàng, ...); 3) tách và nhập một số phòng; 4) lập thêm: tổ bảo vệ; tổ đánh máy (bằng cách tập trung máy chữ và nhân viên đánh máy các bộ môn lại); lập tổ chân nuôi (cũng như cách trên); bỏ tổ vệ sinh quét dọn (mà huy động viên chức và sinh viên làm thay hàng ngày); bỏ nhân viên y công ở các đơn vị (lấy sinh viên, viên chức luân phiên làm thay); 5) bỏ chức danh chủ nhiệm hành chính, chủ nhiệm giáo vụ (thay bằng chức danh phó hiệu trưởng đặc trách). Ngoài ra, để gọn nhẹ, đề nghị chuyển bộ môn Ký sinh trùng về Viện Sốt rét để trường khỏi phải quản lý nó...

Sau một năm thực hiện đề án, bản sơ kết rút ra các bài học: 1) đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng gay go, phải thường xuyên phát động vì sức ỳ rất lớn khiến việc thực hiện đề án chậm chạp; 2) phải chống nóng vội, tránh việc chỉ muốn đạt đến sự đơn giản hóa mà bất chấp các mâu thuẫn có tính nguyên tắc, v.v... Kết quả cuối cùng là với biên chế 282 đã chuyển đi được 24 nhưng lại có 15 người chuyển đến và 20 người chuyển chéo trong nội bộ trường. Số bộ môn, phòng, ban... không giảm, mà tăng lên; rốt cuộc, chỉ xóa được Hội đồng giáo sư (tất cả thành viên đều không phải đảng viên).

NĂM HỌC 1959-1960

Có thể coi năm học 1959-1960 bắt đầu bằng một cuộc họp lớn chưa từng có (4.7.1959) với thành phần tham dự là toàn thể các thầy (biên chế ở trường và kiêm nhiệm, hầu như không vắng ai), đại diện Bộ Y Tế, đại diện các đơn vị trường gửi sinh viên thực tập (bệnh viện, xí nghiệp dược). Dù là chiều thứ Bảy, số người dự vẫn đông chật “hội trường 700” ở cạnh Viện Giải Phẫu để nghe dự án sửa đổi chương trình. Phó giám đốc Mai Văn Bộ, trưởng Ban chuyên môn Đảng ủy, có vai trò trung tâm trong buổi họp, sau khi Giám đốc (hiệu trưởng) lên khai mạc.

“Chương trình Pháp” trước đây (hay đã cải tiến gần đây) được đánh giá là chương trình tư sản, cần bãi bỏ. Phải sửa chữa để người học có giác ngộ xã hội chủ nghĩa (Đức), có kiến thức (Tài) và có sức khỏe. Phải có sự chuyển biến rất lớn về tư tưởng ở tất cả các thầy, cô, kể cả ở các cơ sở đào tạo (không thuộc sự quản lý của trường) và toàn thể sinh viên.

Tính chất tư sản trong chương trình Pháp thể hiện bằng: yếu về khoa học cơ bản, cơ sở; tự do vô trách nhiệm cao độ (ý nói: sinh viên có thể tuỳ tiện bỏ giờ học); học 7 năm (cả PCB, luận án) là quá lâu; đặt ra thi "ngoại trú", "nội trú" làm phân hóa sinh viên thành giỏi, kém là không phù hợp; sinh viên học xong phải tự lo tìm việc, tự hành nghề là sai trái với đường lối XHCN... Còn “chương trình Liên Xô” áp dụng từ năm 1956 đến nay có các ưu việt: dạy cho sinh viên thời sự, chính sách và các môn cơ sở Mác-Lênin; chỉ học 6 năm, bỏ ngoại trú, nội trú, luận án; lại có tính kế hoạch cao. Để sửa chữa, phải kết hợp các phương châm của Đảng về giáo dục và y tế: chính trị phải đi đầu, áp dụng duy vật biện chứng rộng rãi; cả giáo dục, y tế phải phục vụ chính trị; kết hợp với lao động sản xuất...

Rồi số lượng đào tạo phải tăng, chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mỗi năm phải có 600 bác sĩ ra trường để sau 5 năm có 3.000. Do vậy, chương trình có thể rút ngắn. Chống bảo thủ, chậm trễ, đồng thời chống nóng vội. Bác sĩ ra trường phải nhiều, đồng thời phải giỏi (làm được nhiều chuyên khoa ở trình độ có thể độc lập công tác) với lập trường chính trị vững vàng. Muốn vậy, số giờ chính trị, thời sự phải chiếm tới 1/6 chương trình, thay vì 1/8 như năm vừa qua...

Học tập Trung Quốc, dự án đưa ra sự phân bố thời gian cụ thể: mỗi tuần học và tự học 54 giờ, trong đó lý thuyết (gồm cả chính trị), không quá 18 giờ. Mỗi ngày ngủ 8 giờ, ăn và nghỉ 4 giờ, thể dục-quân sự 1 giờ, sinh hoạt đoàn thể, văn nghệ, việc riêng 2 giờ, học 9 giờ, cộng 24 giờ. Mỗi năm học tối đa 540 giờ lý thuyết (tức 30 tuần), còn lại dành cho lao động sản xuất 1,5 tháng, chỉnh huấn mỗi năm 3 tuần, ôn thi và thi 3 tuần; còn nghỉ hè, nghỉ lễ, nghỉ Tết cả thẩy 1 tháng.

Như vậy từ năm học này đã thấy được sự lớn mạnh và trưởng thành của Đảng Bộ nhà trường thông qua việc lãnh đạo toàn diện của Đảng Bộ trong hoạt động nhà trường, không chỉ trong công tác tư tưởng mà cả mọi hoạt động đào tạo.

Năm học 1959-1960, miền Bắc hoàn thành cách mạng dân chủ, các giai cấp bóc lột và thị trường tự do đã căn bản bị xóa bỏ, chỉ còn 3 giai cấp: công, nông, tiểu tư sản. Bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, và hi vọng sau một số kế hoạch 5 năm, ta sẽ có chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Tuy một số khó khăn vật chất xuất hiện (gạo, vải, thịt phân phối theo tem phiếu) nhưng được nhận định chỉ là tạm thời, do vậy thầy trò đều lạc quan. Các buổi mít tinh, biểu tình đều đông đảo, sôi nổi, khẩu hiệu được hô vang. Các buổi lao động tập thể, vệ sinh tập thể, thể dục tập thể nhằm dành danh hiệu thi đua cuốn hút rất đông người. Hoạt động nào cũng được đưa thành các phong trào rầm rộ, ồn ào.

Chương trình năm học được sắp xếp lại, khi báo cáo lên Bộ Y Tế đều có so sánh với “chương trình năm ngoái” để thuyết minh sự cải tiến. Và nó không còn dấu vết gì của “chương trình Liên Xô” nữa, mà là chương trình hoàn toàn Việt Nam, với 8 tháng học, mỗi tuần dành riêng một tối cho họp hành, cả thảy có 3 tháng để lao động và chỉnh huấn, nghỉ tết; và có 1 tháng hè. Thi ra trường bằng hai môn: Chính trị, chuyên môn. Tuy nhiên, điều hiển nhiên được chính thức nhận định là “điểm thi chính trị chưa nói lên chất lượng chính trị”, hơn nữa các thành phần cơ bản tuy không thể “rớt” do môn này, nhưng cũng rất khó đạt điểm cao. Do vậy, có bổ sung: còn phải nhận xét cả quá trình học 6 năm, mới đánh giá được phần “đức”. Nhưng ngược lại, điểm thi thể dục thì lại được coi là phản ánh sức khỏe.

Đường lối công nông được thực thi triệt để trong tuyển sinh: ưu tiên cho gia đình công nông, một số học sinh có thành phần, lý lịch phù hợp được tuyển chọn như hình thức cử tuyển, có người từ cấp I sau 2 năm học cấp tốc đã hoàn thành chương trình cấp III để vào trường.

Biên chế trường lên đến 427 (với 106 cán bộ vừa xin thêm, trong đó có 30 bác sĩ mới tốt nghiệp đầu năm 1960). Số bộ môn của khoa Y lên đến 25. Tuy nhiên, tổng số cán bộ giảng dạy, cả Y và Dược chỉ đạt con số 89, tức 1/5 tổng biên chế, nói lên công sức chủ yếu của đội ngũ này trong việc gánh vác nhiệm vụ của trường. Trường còn được bổ sung lớp kỹ thuật viên I gồm 42 người (Lê Kim Minh, Nguyễn Mai Khanh, Nguyễn Vi Khải,...). Lần đầu tiên trường ta có kỹ thuật viên, có vai trò lớn trong phục vụ giảng dạy và nghiên cứu mà trước đó, việc này do anh chị em y tá, dược tá đảm nhiệm.

Sự kiện lớn là nhà trường đã tổ chức cho 2.000 thầy trò đi lao động thực tế ở vùng than Hồng-Quảng. Sự hào hứng khi được đến miền đất lạ càng làm không khí thêm náo nức, phấn khởi. Sau gần hai tháng trực tiếp lao động giản đơn với công nhân, kết hợp triển lãm, biểu diễn văn nghệ và tổ chức các buổi nói chuyện về vệ sinh phòng bệnh, còn có cả vài điều tra nhỏ về nhiễm giun sán và sốt rét..., thu hoạch về tư tưởng được đánh giá rất cao: thấy được đời sống, trình độ văn hóa và vệ sinh của công nhân và nhân dân còn thấp kém, lạc hậu, trách nhiệm của ngành y tế còn nặng nề. Tuy nhiên, nhiều việc khác có hiệu quả rất thấp so với công sức và thời gian bỏ ra, chẳng hạn tổ chức 3.667 cuộc nói chuyện với 24.557 người nghe, tính ra trung bình mỗi cuộc chỉ có 6, 7 thính giả. Quỹ thời gian của năm học bị hao hụt quá nhiều, sắp xếp việc học rất cập rập, nhiều chỗ đảo lộn (cứ đi thực tập chuyên khoa, mặc dù chưa học lý thuyết môn đó). Ngay số giờ chính trị được tôn trọng nhất cũng chỉ chiếm 1/8 chương trình, khác với dự án đầu năm. Công sức hoàn thành năm học chủ yếu thuộc về đội ngũ 89 thầy, cô và trên 50 kỹ thuật viên. Sinh viên rất muốn năm nào trường cũng tổ chức một đợt rầm rộ như vậy, nên rất nhiều bản thu hoạch đều nhấn mạnh “đi” như vậy rất có ích; đề nghị duy trì mãi mãi.

1960-1964: ĐÀO TẠO PHỤC VỤ KẾ HOẠCH 5 NĂM XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU, CHUYỂN SANG ĐÀO TẠO THỪI CHIẾN

Việc cải tạo tư sản đã căn bản hoàn thành, giai cấp bóc lột cuối cùng ở miền Bắc bị xóa bỏ. Đại hội Đảng III quyết định đưa miền Bắc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà bước đầu tiên là kế hoạch 5 năm lần thứ Nhất với tất cả ý nghĩa trọng đại của nó. Tiền lương được cải cách, viên chức "kháng chiến" được cải thiện lớn, còn viên chức "lưu dụng" thì giảm thu nhập đột ngột để hưởng cùng thang bậc lương với viên chức kháng chiến. Tên gọi công chức "lưu dụng" đã đi vào lịch sử.

Tem phiếu đã sử dụng phổ biến nhưng giá thực phẩm còn khá rẻ: một bát phở giá 3 hào nhưng hàng công nghiệp thì rất đắt, ví dụ quạt "tai voi" do Liên Xô sản xuất giá trên 100 đồng, còn đồng hồ đeo tay Liên Xô 70 đồng - bằng lương một bác sĩ mới ra trường. Lương hiệu trưởng và các giáo sư Trần Hữu Tước, Nguyễn Xuân Nguyên, Đặng Văn Ngữ,... là 160 đồng. Giáo sư Vũ Công Hoè và và Đặng văn Chung hưởng “lương mới” là 145 đồng. Ông Nguyễn Trí Đức còn 64 đồng. Các đại úy về trường được xếp 100 đồng, y tá 47 đồng. Thấp lương nhất là bà Lê Thị Chương (29 đồng) và Nguyễn Thị Chút (32 đồng)....

Nhiệm vụ mà toàn trường phải học tập để thực hiện là đào tạo bác sĩ “nhanh, nhiều, tốt, kiệm” phục vụ cho kế hoạch 5 năm 1960-1965. Bộ Y Tế chỉ thị phải nhanh chóng cấp bằng cho tất cả các y sĩ cao cấp với thủ tục đơn giản để có thêm bác sĩ và xóa hẳn chức danh y sĩ cao cấp trong ngành. Phải rút đến mức ngắn nhất thời gian đào tạo bác sĩ và dược sĩ, đồng thời tuyển sinh tăng gấp bội số lượng hàng năm theo chỉ tiêu cấp trên giao. Mặt khác, trường còn phải bổ túc 2 năm cho các y sĩ trung cấp lên bác sĩ. Để phối hợp, Bộ Y Tế sẽ mở một loạt trường trung cấp ở các tỉnh, học tối đa 2 năm, tuyển sinh mỗi năm hàng ngàn. Vậy mà các cấp lãnh đạo vẫn lo không đủ số bác sĩ như kế hoạch đòi hỏi.

Một thống kê và dự báo năm 1960 cho biết: đến lúc này, toàn miền Bắc có 404 bác sĩ, đã tập trung tới 1/5 ở trường nhưng nhiệm vụ số thầy, cô này vẫn quá nặng vì họ phải đào tạo ra trường 1154 bác sĩ hệ chính qui và 705 hệ bổ túc, với thời gian eo hẹp mà Bộ trưởng đã tuyên bố là 4,0 năm cho bác sĩ chính qui (3,5 năm cho dược sĩ). Đây là lúc mà các thầy, cô được nghe câu "yếu còn hơn thiếu" vì ta đang quá thiếu cán bộ y tế. Sau đó, số bác sĩ dự kiến đào tạo trên vẫn không đủ. Bộ trưởng đích thân về trường đả thông tư tưởng và chính thức giao nhiệm vụ đào tạo nhiều hơn nữa.

Trong dịp kỷ niệm 15 năm (1945-1960), bản báo cáo dày 26 trang ở buổi lễ đã nêu con số phải đào tạo mới 3.000 bác sĩ với các giải pháp như đã nói trên. Cụ thể: trường sĩ quan quân y (trung cấp) đã liên tục gửi y sĩ ra cho trường ta dạy bổ túc và cấp bằng: năm 1959, cấp bằng cho khóa Lê Thế Trung, năm 1960 chuyển lên bác sĩ các y sĩ cao cấp khóa I, II,... liên tục cho đến 1968, 1969 (là năm trường quân y được nâng cấp lên đại học). Năm 1960, từ một trường y sĩ trung ương, Bộ Y Tế mở thêm 3 trường trung cấp ở Thanh Hóa, Nghệ An, Nam Định (ngày 8.7.1960), sau 3 tháng lại mở liền 7 trường nữa (Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hà Đông, Phú Thọ...) với số tuyển sinh là 784 (có 400 y tá xã), kinh phí 600 đ/năm cho mỗi đầu học sinh. Cán bộ giảng ở mỗi trường là 2 - 5 bác sĩ, số thầy còn lại toàn là y sĩ. Sau khi ra trường vài năm, họ học thêm 2 năm (cả văn hóa, lẫn chuyên môn) để thành bác sĩ, tính ra tổng cộng chưa hết 6 năm mà lúc vào chỉ cần trình độ văn hóa cấp II.

Các lớp bổ túc y sĩ đầu tiên do trường ta mở (2 năm) có chất lượng tương đối tốt. Những người được giữ lại ở trường đều có trình độ (Phạm Kim, Phan Dẫn,...) nhưng về sau, chất lượng các lớp này cứ giảm dần, và giảm nhanh, đến mức phải có những hội nghị chuyên đề về vấn đề này, nhất là thời kỳ sơ tán chống Mỹ.

Năm 1960-1961, 340 sinh viên Y1 vào trường (có rất nhiều y tá từ trình độ cấp II học bổ túc 3 môn Toán Lý Hoá lên trình độ cấp III) được nghe tuyên bố là chỉ học 4 năm sẽ thành bác sĩ nhưng chất lượng không thua kém học 6-7 năm. Thực tế về sau, chương trình 4 năm, mà nhiều thầy cao tuổi và một số giáo sư gọi thẳng là "chương trình y sĩ Đông Dương" đã bị phá sản, do vậy giữa chừng phải điều chỉnh rất vất vả, công phu. Toàn bộ gánh nặng lại dồn lên vai đội ngũ thầy.

Lớp Y1 này đã phải học 5,5 năm để ra trường. Đó là lớp của Trần Văn Liễu, Đỗ Trung Phấn, Võ Đức Quê, Phùng Xuân Bình, Lê Đình Roanh... Lớp Y2 (vào trường năm học 1959-1960) dự định học 4,5 năm (vì đã chót học 1 năm theo chương trình 6 năm) thực tế cũng phải học 5,5 năm với một chương trình khá chắp vá vì sự sửa sai. Ví dụ khi đã học Vi sinh, Sinh lý bệnh mà vẫn phải quay lại học thêm Hóa, Lý (lớp Lê Thị Oanh, Phạm Hoàng, Lê Đình Cầu, Bùi Thanh Tâm,...). Còn lớp Y3 (Trịnh Quang Huy, Phan Sỹ An, Phan Hiếu,...) đã dấn sâu vào chương trình 6 năm nên được dự kiến học 5 năm thì cũng phải ra trường sau 5,5 năm. Các lớp khác, từ Y4 trở lên, ra trường đúng 6 năm. Như vậy, chương trình Liên Xô vừa thực hiện được 2 năm 1957-1958 cho Y1, Y2 năm đó, thực tế không có gì khác biệt rõ ràng với chương trình nhiều nước, kể cả Pháp, đã mặc nhiên bị loại bỏ bỏ để học chương trình 4 năm do tự ta soạn thảo, rồi đến lượt chương trình này cũng bị phá sản, vứt bỏ, để quay về chương trình 6 năm.

Người chủ chốt thực hiện chương trình 4 năm là ông Phan Huy Chữ và bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ (ông Mai Văn Bộ đã đi khỏi trường để nhận công tác khác). Hai ông chủ trương tinh giản bài học, tránh trùng lắp, tìm cách mô tả cụ thể những nhiệm vụ mà một bác sĩ ở tuyến huyện phải làm - từ đó ra đời khái niệm mục tiêu - để soạn thảo chương trình cho phù hợp. Mỗi bộ môn được thảo luận kỹ mục tiêu, bàn cách thực hiện phần của bộ môn mình, trong đó lớp bác sĩ mới ra trường (1960) chiếm 2/3 số cán bộ giảng dạy tỏ ra rất hâng hái, sôi nổi. Hàng năm đều có hội nghị giáo dục cấp bộ môn và cấp toàn trường để cải tiến phương pháp dạy cho đạt kết quả. Trong các lớp, ngoài số sinh viên đủ chất lượng, bao giờ cũng có tỷ lệ lớn sinh viên kém do nhiều tuổi và do sự tuyển chọn văn hóa không chặt chẽ. Vì vậy, bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ đã đề ra phong trào "cán bộ giảng dạy là tiểu đội trưởng", nghĩa là phải bám sát tổ sinh viên của mình, phụ đạo từng cá nhân rất tỉ mỉ. Việc này, lớp bác sĩ ra trường đầu và cuối 1960 gánh vác hoàn toàn và rất hâng hái. Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ còn đề ra 4 "tính" của bài giảng, gồm: tính tư tưởng, tính kinh điển, tính hiện đại và tính thực tiễn. Các bàì giảng “mẫu” trong Hội nghị giáo dục toàn trường (do các thầy, cô Trần Thị Ân, Nguyễn Trinh Cơ, Nguyễn Ngọc Doãn,... thực hiện) đều được bình và góp ý theo 4 tiêu chuẩn đó. Ngày nay, đọc lại những tham luận trong Hội nghị giáo dục có thể thấy hội nghị khá bổ ích về sư phạm.

Sau 2 năm nỗ lực thực hiện chương trình 4 năm (ít hiệu quả), cộng thêm sự góp ý thẳng thắn của lớp thầy nhiều kinh nghiệm (từ bác sĩ Vũ Triệu An trở lên), hai ông Phan Huy Chữ và Nguyễn Trinh Cơ thấy rõ: không thể đào tạo bác sĩ trong 4 năm, thậm chí 5 năm, và không thể bổ túc lên bác sĩ trong 2 năm cho các y sĩ mà trình độ văn hóa và chuyên môn đều bất cập. Kiên trì, khéo léo, và cả cương quyết, hai ông đã thuyết phục Bộ trưởng Bộ Y Tế cho quay lại chương trình 6 năm, đồng thời dũng cảm và tỉ mỉ sửa chữa các sai lầm, hậu quả. Mục tiêu đào tạo tiếp tục được hoàn thiện và được Đại hội Đảng bộ lần thứ Mười (X) thông qua. Điều đặc biệt là ngay trong thời kỳ chống Mỹ xâm lược, trường ta vẫn đào tạo 6 năm.

Khóa sinh viên ra trường 1965 và 1966 sau 5,5 năm học tập được giữ lại trường rất đông, trở thành lớp thầy, cô đảm nhiệm chủ chốt việc hướng dẫn sinh viên thực tập, thay cho lớp trước đã trở thành lực lượng chủ chốt dạy lý thuyết. Họ đều đóng góp công sức rất lớn trong thời kỳ chống Mỹ và sau này họ đã trở thành lớp cán bộ chủ chốt của trường. Có thể kể: Đỗ Trung Phấn, Trần Văn Liễu, Nguyễn Văn Nguyên, Thái Doãn Sơn, Phan Thu Anh, Phạm Gia Khánh, Phạm Thị Minh Đức, Trần Văn Dần, Ma Thị Huế, Phạm Khánh Hoà... Còn lớp sinh viên vào trường sau "sửa sai" chương trình 4 năm thì lại học đủ 6 năm, ra trường 1968 (Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Gia Khánh, Lê Văn Khang, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Chí Phi, Lê Huy Chính,...). Do vậy, trường không có khóa tốt nghiệp năm 1967.

Năm 1960, đoàn kiểm tra do thứ trưởng Vũ Văn Cẩn dẫn đầu làm việc tới 8 ngày ở trường với ban giám đốc, các phòng, bộ môn, đã kiến nghị với Bộ Y Tế 6 điểm: sửa đổi tổ chức và phương pháp lãnh đạo để thực hiện nguyên tắc “Đảng bộ lãnh đạo, thủ trưởng phụ trách”; củng cố lại ban giám đốc để chuẩn bị tách trường (hiện đang có 2 cấp phó chuyên môn và 2 cấp phó chính trị),.. Đáng chú ý là điểm thứ 6: nghiên cứu lại cơ cấu và tổ chức của bệnh viện Bạch Mai để nó thành bệnh viện của trường vào năm 1961. Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ, đã thay mặt đoàn, lập ra một văn bản gửi Bộ. Cả trường vui mừng phấn khởi, nhưng rốt cuộc các dự định đều không thành.

Năm 1960, Bộ củng cố tổ chức dạy văn hóa trong nội ngành. Trung tâm khoa học như trường ta mà trình độ văn hóa trung bình là cấp II (không kể số có bằng đại học) và khoảng 30% viên chức trình độ là cấp I thì thật khó chấp nhận. Trường Bổ túc Văn hóa thuộc đại học Y Dược được mở. Hiệu trưởng lúc đầu là thầy Trương Công Quyền, sau là Nguyễn Ngọc Lanh. Ngoài các lớp cấp I và cấp II, còn có 12 lớp cấp III (vì cán bộ Y tế toàn Hà Nội cũng xin học).

Đặc biệt có lớp dành cho cán bộ lãnh đạo với giảng viên là Phan Văn Duyệt, Đỗ Đình Hồ, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Ngô Kiêm.... Học sinh gương mẫu và thực chất của lớp này là ông Phan Huy Chữ, bí thư Đảng ủy, đã nêu gương sáng về học tập cho tất cả. Xong cấp III, ông học cả chương trình đại học một số môn. Tất cả các thầy chính trị của trường đều phải học bổ túc cấp III (có thầy phải học cấp II) cũng vào lớp nói trên, nhưng nhiều người rất vất vả và bỏ cuộc. Vậy mà nhiều y sĩ, kỹ thuật viên nhờ học ở đây sau này đã thi được vào đại học (Phạm Đình Thẩm, Nguyễn Mạnh Chính, Nguyễn Mai Khanh, Nguyễn Vi Khải...).

TÁCH TRƯỜNG

Ngày 27.1.1961, để chuẩn bị tách 2 trường, trường Y (tương lai) đã được Uỷ ban hành phố Hà Nội cho phép sử dụng 30,6516 hecta đất thuộc cánh đồng hai thôn Trung Tự và Khương Thượng để xây dựng cơ bản theo thiết kế năm 1960, được niêm yết cho mọi người góp ý. Một số đã chỉ ra tính chất lạc hậu, thiếu hợp lý của bản vẽ. Kinh phí về muộn, thiếu, và sau đó do chiến tranh nên sau 30-40 năm, trường Y chưa hoàn thành kết cấu hạ tầng. Đất bị chiếm dụng không sao đòi lại được.

Đề án tách trường Y và Dược được Hội đồng Chính phủ duyệt ngày 20.9.1961, dự định thực hiện làm 3 bước, nhưng thực tế làm rất chậm. Năm học 1961-1962, hai trường vẫn là một. Đến năm 1964, hai trường vẫn chung con dấu cho tới khi chuẩn bị sơ tán chống Mỹ.

Lý do để tách trường được nêu trong văn bản chính thức là: 1) do học thuật khác nhau nên nội dung chương trình và việc tổ chức giảng cũng khác; 2) Dược là cơ sở của Y, do vậy việc vận dụng phương châm giáo dục và y tế cũng khác nhau (ví dụ nêu lên để thuyết phục người đọc là: Y phải đến tận nơi để dập tắt dịch, còn Dược thì ngồi tại chỗ lo pha chế thuốc chống dịch); 3) Vận dụng kết hợp lao động sản xuất cũng khác nhau (Y về nông thôn, còn Dược tới xí nghiệp); 4) Nhiệm vụ trường Y ngày càng nặng, cán bộ và sinh viên ngày càng đông, phải tách ra (xem ra, chỉ điểm này là tạm hợp lý).

Ngày 15.3.1961 thành lập Hội đồng khoa học thay thế cho Hội đồng giáo sư trước đây. Ngoài 12 giáo sư (vẫn trong hội đồng), còn có 24 vị khác trong đó có một số đảng ủy viên, các chủ nhiệm bộ môn và đặc biệt có 3 người mới ra trường được 4 tháng đến 1 năm (Nguyễn Quang Đạt, Nguyễn Trung Chính, và Nguyễn Văn Xang).

Năm 1962, trường cho tốt nghiệp 224 bác sĩ mà lẽ ra họ phải ra trường 1961, sau khi học đủ 6 năm. Đây là khóa vào trường tháng 9.1956 gồm 308 sinh viên. Từ 1962, lương khởi điểm bị hạ thấp 1 bậc, họ chịu thêm một thiệt thòi so với sinh viên các trường khác cùng vào đại học (1956) nhưng chỉ học 3-4 năm. Có 13 người được giữ lại trường (Trương Văn Hợi, Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Công Khanh, Đỗ Kim Sơn, Trần Quỵ, Trần Thúy, Chu Văn ý, Vũ Xuân Uông...). Cuối năm đó, khóa 1957 ra trường sau 5,5 năm học tập (Nguyễn Hữu Chấn, Ngô Thế Phương, Hà Huy Khôi, Dương Hữu Lợi, Vũ Duy San, Lê Hùng Lâm, Ngô Gia Thạch, Nguyễn Đoàn Hồng...).

Đặc biệt năm 1962 có báo cáo 18 trang gửi Bộ Y Tế về tổng kết rút kinh nghiệm đào tạo bác sĩ hàm thụ 2 năm. Trong 14 tháng học các môn cơ sở tại chức, học viên có được tập trung về trường vài lần: đó là thời gian quan trọng nhất để phụ đạo, ôn thi... còn thời gian tự học ở cơ quan rất ít hiệu quả. Sau đó, họ học thêm 5 tháng chuyên ngành và thi tốt nghiệp, “đạt” toàn bộ 107 người vào tháng 8.1962 (Đặng Hồi Xuân, Nguyễn Kim Phong, Nguyễn Nghinh, Lã Vĩnh Quyên,...). Phải nói rằng do trình độ khởi đầu của học viên rất khá, nhiều người thông thạo tiếng Pháp nên khi ra trường họ vẫn có trình độ tương xứng với bằng cấp. Ba khóa tiếp theo với 319 học viên thì trình độ và chất lượng sút kém rõ ràng, lại có cả chuyên khoa Tổ chức Y tế. Cách đào tạo này rất khó đảm bảo chất lượng, do vậy trường không định tiếp tục nữa.

Như vậy, dù đã mở hết công suất, trường Đại học Y Dược Hà Nội cũng không sao đào tạo đủ số bác sĩ, dược sĩ như chỉ tiêu cấp trên dội về. Số lượng tuyển sinh cao nhất chỉ đạt 420, thay vì 650 như mong muốn. Chất lượng sinh viên không đồng đều do có lẫn sinh viên dạng cử tuyển vì vậy trong cùng một lớp có người rất giỏi, có người lại quá kém.

Hội đồng tuyển sinh có 4 bộ phận:
1) Xét duyệt chính trị
2) Tổng hợp
3) Hậu cần, và cuối cùng là
4) Bộ phận Giám thị - giám khảo.

Chương trình 4 năm, sau hai năm thực hiện đã phải điều chỉnh lại rất vất vả. Việc mở trường Vinh không thành, cán bộ được cử đi Vinh (Cao Quốc Việt...) phải xin trở lại bộ môn Nhi tại Hà Nội. Việc mở trường Hải Phòng chậm chạp và phân hiệu này chỉ thực tế hình thành sau 1975. Các trường khác (Thái Bình, Bắc Thái) cũng mở rất muộn, vậy mà vẫn bất cập từ cơ sở, trang, thiết bị và đội ngũ. Trường Thanh Hóa mở lớp đầu bổ túc y sĩ lên bác sĩ đều do các thầy trường ta đảm nhiệm, và chỉ được một khóa rồi giải thể. Hiện tượng “sinh non” của các trường trên quá rõ. Đó là do muốn có rất nhiều bác sĩ trong thời gian ngắn nhất.

Biên chế chuẩn bị cho trường Hải Phòng lúc đó gồm bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ (dự kiến hiệu trưởng), bác sĩ Bùi Đồng (phó hiệu trưởng), bác sĩ Nguyễn Hữu Hồng (Giáo vụ), bác sĩ Lê Quang Cát (Giải phẫu), dược sĩ Lương Tấn Thành (Hóa sinh), bác sĩ Trịnh Bỉnh Di (Sinh lý học), bác sĩ Trịnh Kim ảnh (Nội khoa)... Đây là phân hiệu mà trường ta dự định xây dựng thật đúng nghĩa thì lại không thành.

Trong tình hình như vậy, nguy cơ Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc hiện rõ dần. Tháng 6.1962, một hồ sơ đóng dấu "Tuyệt mật" được soạn thảo ở Bộ Y Tế theo chỉ thị từ một cấp cao hơn, gọi là: "Kế hoạch động viên trong năm đầu chiến tranh". Đã thống kê: số y, bác sĩ trước 1954 là 121, sau 1954 thêm được 349 y, bác sĩ và đến 1962 là 816 bác sĩ, 3018 y sĩ, 662 dược sĩ (trung-cao). Điểm liên quan đến trường ta là: phải tổ chức gọn nhẹ, chương trình rút gọn như thời kháng chiến chống Pháp, nội dung dạy phải phục vụ thời chiến thật hiệu quả, số sinh viên giảm đi...

Tuy vậy, trường vẫn soạn thảo tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư, dưới nữa là giảng viên, trợ lý (vẫn gồm 4 bậc, nhưng tên gọi thay đổi). Tiêu chuẩn chính trị lần này được nêu lên hàng đầu, gồm: lập trường, tư tưởng, đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa, có thành tích xây dựng ngành... (đối với giáo sư thâm niên trong ngành ít nhất 15 năm, có 3 năm là phó giáo sư hoặc đã được cử phụ trách bộ môn). Danh sách gửi lên Bộ Y Tế để trình Thủ tướng gồm 8 giáo sư (Hoàng Đình Cầu, Trương Cam Cống, Nguyễn Trinh Cơ, Nguyễn Ngọc Doãn, Nguyễn Văn Hưởng, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Huỳnh Quang Đại), 23 phó giáo sư (Trần Thị Ân, Nguyễn Dương Hồng, Hoàng Tích Mịnh, Nguyễn Dương Quang, Phạm Khắc Quảng, Hoàng Sử, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Lương Tấn Trường, Đặng Hanh Khôi, Đỗ Tất Lợi,...). Các trường khác chưa đến thời điểm để tiến hành phong học hàm, vì vậy việc làm của trường ta rất đơn lẻ, chưa được sự quan tâm của cấp có trách nhiệm. Mặt khác, bộ Y tế cũng không đủ quyền hạn làm việc này. Tuy nhiên, bộ Y tế vẫn có Thông tư ngày 21.6.1963 gửi các Sở, Ty và các cơ quan trực thuộc để ai muốn thì về dự thi trợ lý và giảng viên. Thực tế, không có ai ở các địa phương nộp đơn, cuối cùng thí sinh toàn là các thầy ở trường. Năm sau, trường tổ chức thi tuyển trợ lý và giảng viên theo thông tư nói trên (thi trợ lý có Đào Văn Phan, Phạm Đình Lựu... ở khóa ra trường 1960; thi giảng viên có Trịnh Bỉnh Di... ở khoá ra trường 1955). Rồi cũng chẳng ai công nhận họ.

Chưa bao giờ các biện pháp thực thi để níu kéo chất lượng (nhất là chất lượng toàn diện) lại nhiều như hồi đó. Sự giảm sút chất lượng đã quá rõ. Vài ví dụ. Nội qui thực tập được ban hành ngày 21.8.1962 cho sinh viên thực tập ở phòng khám khu phố đã qui định chức trách và nội dung thực tập cho Y2-Y5, thay cho chế độ, chức trách của Bộ Y Tế ban hành trước đó. Một đề án 12 trang (ký ngày 6.10.1962) về việc đưa sinh viên đi thực tế ở các tỉnh từ 16-17 tuần (tương đương một học kỳ, thay cho 21 tuần như dự định) để: 1) nâng cao nghiệp vụ; 2) học quản lý, tổ chức; 3) học thực tế Việt Nam; 4) học lập trường, tư tưởng và quan điểm. Dẫu vậy, các yêu cầu nghiệp vụ nêu rất cụ thể, chủ yếu là Ngoại-Sản vì ở Hà Nội không dủ bệnh nhân. Tỉnh định đi (vì ở đó có bệnh viện lớn), là: Hải Phòng, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Hà Đông. Thầy hướng dẫn: Dương Chạm Uyên, Lê Văn Điển, Phạm Hoàng Phiệt, Dương Thị Cương.... Năm 1963 đã có 120 sinh viên Y5 do 5 thầy đưa đi, kinh phí 25.435 đồng; dự kiến 1964 sẽ cho 160 sinh viên Y5 (từ Y4 mới lên lớp), kinh phí 56.954 đồng.

Sinh viên các lớp dưới thì đi thực tế lao động sản xuất. Điều quả nhiên là không thể tổ chức cho cả trường rầm rộ về nông thôn hay vùng mỏ gần 2 tháng trời: vì thiếu tiền. Trường đã lập một nông trường ở Thái Nguyên (Phấn Mễ) với mục đích chính là để sinh viên rèn luyện (chân tay), còn cải thiện là thứ yếu. Lớp sinh viên đi đầu tiên là Y1A, Y1B và Y3A, Y3B (năm học 1962-1963). Cùng đi, có hai thầy (kiêm cả công tác y tế nội bộ). Ban chỉ huy nông trường thành lập ngày 17.12.1962 có ông Trần Ngọc Phượng, bác sĩ Đỗ Nguyễn Phương, ông Nguyễn Chí Thành. Năm sau, nếu không xảy ra chiến tranh, sơ tán, chắc hình thức này cũng không thể tồn tại lâu vì rất ít hiệu quả kinh tế, thiếu kinh phí, còn ý thức và “khí thế” cũng rất hạn chế.

Mặc dù đã đưa nhiều lớp sinh viên đi khỏi Hà Nội nhưng số sinh viên vẫn rất đông so với cơ sở, trường lớp, nơi thực tập và số thầy, cô. Chẳng hạn, năm học 1962-1963 ngoài 400 sinh viên Y1 mới tuyển (Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Văn Dịp, Nguyễn Gia Khánh, Lê Huy Chính...), còn có 1485 sinh viên chính qui, 59 sinh viên hàm thụ khóa II và 160 sinh viên khóa III, 37 sinh viên lớp Tổ chức Y tế. Số ra trường gồm: 155 Y6 (tốt nghiệp 145) và 59 hàm thụ. Mặt khác, hai trường Y và Dược đã có một số hoạt động tách rời, dù con dấu và hiệu trưởng vẫn là một. Tổng biên chế trường Y lúc đó là 374, sẽ sang Dược 15 còn 359, trong đó có 2 bác sĩ về thường trú Hải Phòng để đón sinh viên Y4, Y5 về thực tập ở bệnh viện Việt-Tiệp (sáng kiến của bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ). Tỷ lệ cán bộ giảng dạy chiếm 46,5%, trong đó, Mác-Lê chiếm 7,8%. Thời điểm chia trường cũng là lúc bộ môn Đông Y và bộ môn Thể dục - Quân sự (ghép) được thành lập.

Đề án thừa nhận những sai sót lớn trong chủ trương học 4 năm và các sửa chữa, bổ khuyết được soạn thảo (19.6.1963), tác giả là hai vị có công lớn đề xuất mục tiêu đào tạo: Phan Huy Chữ và Nguyễn Trinh Cơ.

Lý do xin Bộ Y tế cho tăng thêm 1,0 - 1,5 năm, để Bộ Y Tế có thể chấp nhận, hai tác giả đề án đã nêu: 1) để tăng cường môn chính trị, 2) để tăng thêm giờ các môn cơ bản, cơ sở, vì thực tế là học lướt các môn này đã khiến cho việc tiếp thu các môn sau khó khăn hơn, 3) để thực hiện ý định 2 tháng lao động và 4 tháng quân sự, 4) để tăng cường học Đông Y, Thể dục là 2 môn vừa thành lập trước đó, và 5) để sinh viên có thể nghỉ hè.
Trên thực tế, thời gian 1,0 - 1,5 năm xin kéo dài chương trình chủ yếu dành cho các môn cơ sở (lớp Y2 phải học lại Hóa, Y3 đã học Hóa sinh vẫn phải quay lại học thêm 66 giờ Hóa...).

Về nghiên cứu khoa học, thời kỳ 1960-1965 đánh dấu bước tiến lớn của trường. Lúc này, Thư viện Y học trung ương được thành lập, đặt dưới quyền Hiệu trưởng. Đầu năm 1961 có một hội nghị khoa học toàn trường, lần đầu tiên, cán bộ, sinh viên được nghe các kết quả nghiên cứu giải phẫu gan (Tôn Thất Tùng), báo cáo về sinh tổng hợp prôtêin, để gián tiếp nói về sự đúng đắn của "học thuyết di truyền tư sản" đối lập với học thuyết Mítsurin ((Đặng Văn Ngữ, lúc này, ông là chủ nhiệm bộ môn Sinh Học trường ta).

Năm 1963, Hội nghị Khoa học lần thứ II diễn ra vào các ngày 26 và 27 tháng 3. Có 13 đề tài tiêu biểu ở hội trường lớn, trong đó có đề tài của một thầy trẻ (Nguyễn Quang Quyền) về phân chia các thùy phổi. Các thầy trẻ đã báo cáo công trình đầu tiên của mình, mặc dù họ mới ra trường 3, 4 năm, khiến số đề tài tăng gần gấp đôi so với hội nghị khoa học lần thứ nhất.

Trong số 11 đề tài ở Hội trường I, có 7 của các thầy trẻ (Phạm Gia Khải, Đào Văn Chinh, Trần Ngọc Ân,...), ở Hội trường II, họ chiếm 50% số đề tài (Trịnh Văn Minh về đường mật trong gan...). Tối 26 và hôm sau cũng vậy. Theo tờ TIN Y DƯợC (số 3), một tờ nội san mà người góp công sức lớn nhất là các bác sĩ Phan Văn Duyệt, Nguyễn Ngọc Lanh, năm đó đã sơ-tổng kết 313 đề tài, gấp 1,5 lần năm 1961. Đề tài phản ánh tình hình bệnh tật đa dạng và đặc trưng cho Việt Nam, có nhiều đề tài về vệ sinh phòng bệnh, dược. Một số đề tài sau này phát triển khá cao (cắt gan, cắt khối u hạ họng, giải phẫu gan, phổi...). Hướng nghiên cứu mà Đảng ủy và Hội đồng Khoa học đề ra và được hưởng ứng nhiều là: Đặc điểm tình hình bệnh tật, chẩn đoán, điều trị; điều tra cơ bản; khắc phục khó khăn trong chuyên môn...Còn hướng "Chế biến lương thực" và hướng "phục vụ sản xuất công-nông nghiệp" thì rất ít người làm; chỉ có Ngô Gia Thạch nghiên cứu về sự hấp thu của ngô (Nhà Nước đang thay một phần gạo bằng ngô trong bữa ăn của viên chức); như vậy bị nhận định là chưa thực hiện tốt phương châm giáo dục.

Từ đầu năm 1964, trường Y và Dược có con dấu riêng. Khóa bác sĩ vào trường năm 1959 thi tốt nghiệp. Đây là khóa dự định học 4,5 năm, nay thành 5,5 năm. Trong ban giám khảo có một số bác sĩ quân y hỏi thi, báo hiệu trường ta bắt đầu phải cung cấp bác sĩ cho quân đội một cách hệ thống, mặc dù từ khóa ra trường 1960 đã có người vào quân y (Phan Đình Kỷ...).

Ngày 5.8.1964, không quân Mỹ bắt đầu đánh phá một số địa điểm trên miền Bắc nhưng sau đó, tình hình lại tạm yên cho đến khi lớp này thi tốt nghiệp.

Rồi chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ bắt đầu ác liệt. Đợt đầu đã có 48 bác sĩ thuộc khoá trên đi phục vụ chiến đấu ở đảo Cồn Cỏ, Quảng Bình và nhiều nơi khác. Người hi sinh đầu tiên là bác sĩ Tuấn (tại Quảng Bình). Đây cũng là lớp đầu tiên được lấy đi chiến trường miền Nam với số lượng rất đông. Dù vậy, trường ta vẫn kiên quyết giữ chương trình 6 năm, vì: 1) số bác sĩ phục vụ nhu cầu chiến đấu đã tạm đủ, sẽ tiếp tục có nhiều khóa ra trường, 2) trường xác định vai trò đầu đàn trong quá trình hình thành các trường đại học Y khác, kể cả khi thống nhất đất nước (chi viện giảng dạy, cung cấp cán bộ...). Kết quả của Hội nghị Khoa học được phát huy: năm 1964, tổng kết được 198 đề tài của 24 bộ môn. Một số tiến sĩ, phó tiến sĩ sau 12 năm liên tục học ở Liên Xô (1952-1964) đã bắt đầu làm việc ở trường: Lê Văn Phước, Nguyễn Năng An...

Điều thú vị là Phủ Thủ tướng chỉ thị khen thưởng sinh viên hàng năm, căn cứ vào kết quả học tập, phấn đấu, kết quả thi, và bình bầu, đặc biệt là nhận xét của các thầy trực tiếp phụ trách tổ (thầy Phạm Gia Khải, Vũ Văn Đính, Trần Ngọc Ân, Đỗ Đức Vân, Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Ngọc Lanh....). Bộ Y Tế đã chuẩn y đề nghị của trường, khen thưởng 34 sinh viên (ký ngày 1.10.1964).

Lớp Y1 có 8 sinh viên được khen (Quan Lệ Nga, Đinh Thị Bích Thu,...), Lớp Y2 có 14 sinh viên (Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Chí Phi, Nguyễn Gia Khánh, Phạm Mạnh Hùng, Trần Phú Nhiên,...), lớp Y3 có 8 sinh viên (Trần Văn Dần, Phạm Thị Minh Đức, Hoàng Hữu Đốc, Bạch Vọng Hải,...), lớp Y4 có Văn Đình Hoa, Đinh Thế Bản, Nguyễn Duy Toàn...

Trường bắt đầu tìm nơi sơ tán. Khóa bác sĩ ra trường năm 1965 (và sau đó là 1966) được giữ lại trường rất đông và đóng góp lớn đầu tiên của họ là di chuyển tài sản, trang thiết bị, đào hầm, ổn định cơ sở nơi sơ tán và bắt đầu giảng dạy thực tập cho các tổ sinh viên. Trong khi đó, trường vẫn lập Hội đồng Giáo dục - Khoa học, thay cho Hội đồng Khoa học trước đây. Phiên họp đầu tiên (20.2.1965) đi đến quyết nghị:

1) Lập 3 tiểu ban (Giáo dục: Nguyễn Trinh Cơ; Khoa học: Đặng Văn Chung và Cán bộ: Phan Huy Chữ),
2) Định ra hình thức thi tuyển giảng viên,
3) Đề ra mục tiêu đào tạo, nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học Quả là không lúc nào trường không nghĩ đến chất lượng và tương lai, dù là đang bước vào cuộc chiến tranh mới, hết sức ác liệt để bảo vệ đất nước.

Giai đoạn 1955-1964 cho dù với nhiều bài học về ấu trĩ, tả khuynh, nóng vội, gây những thiệt hại nhất định; nhưng cũng mang lại rất nhiều kết quả tốt đẹp: sự trưởng thành của Đảng Bộ nhà trường, sự hoàn thiện về cơ cấu tổ chức nhà trường cũng như sự tạo dựng đội ngũ các thầy trẻ trong hoàn cảnh quá tải về chỉ số đào tạo, chất lượng tuyển sinh tuy bất cập với những tiêu chuẩn rất khó định lượng, nhưng đã đạt được mục tiêu cung cấp một số lượng lớn bác sỹ cho cả nước và họ đều hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

 

Ban lịch sử Đại học Y Hà Nội
10/1/2003


Network Center, Hanoi Medical University.
Copyright 2001 HMU. All rights reserved.