Chương V
Thời kỳ đất nước thống nhất (1975 - 2002)
 

Lịch sử trường trong thời kỳ đất nước thống nhất có thể chia làm hai giai đoạn: trước và sau khi có Nghị quyết Đại hội VI (1986).

- Từ 1975 đến 1986 (trước khi có Nghị quyết Đậi hội VI. Đây là giai đoạn nhân dân nô nức vui mừng vì đất nước sạch bóng quân thù, hy vọng sẽ tiến nhanh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội với ấm no, hạnh phúc.

Tên nước, tên Đảng, rồi tên Đoàn thanh niên và Đội thiếu nhi cũng được thay đổi để nói lên quyết tâm xây dựng nhanh một nước Việt Nam phồn vinh, ấm no, hạnh phúc. Khầu hiệu bao trùm khi đó là “Tất cả vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Quyết tâm trên đã được thể chế hoá trong bản Hiến pháp hồi đó.

Nhưng đây cũng là giai đoạn đất nước có rất nhiều khó khăn do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp không còn thích hợp, lạm phát tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực tới trường đại học Y Hà Nội.

- Từ 1986 trở đi (sau khi có Nghị quyết Đại hội VI): thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, các mặt dần dần có sự tăng trưởng và phát triển; nhờ vậy đã có tác động rất tích cực đối với trường đại học Y Hà Nội.

Tuy nhiên, dù giai đoạn mới đã mở ra, nhưng quán tính của nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp vẫn tồn tại một số năm nữa: phải đến năm 1990 trở đi các tác dụng tích cực mới thật sự phát huy. Bởi vậy giai đoạn này có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ:
a) Từ 1986 đến 1990: Phục hồi
b) Từ 1990 đến nay: Khởi sắc và phát triển

Giai đoạn phục hồi vẫn là thời kỳ khó khăn do quán tính của thời kỳ quan liêu bao cấp để lại nên không khác nhiều so với thời kỳ 1975-1986 do vậy chúng tôi tạm chia thời kỳ 1975-2002 thành hai giai đoạn: giai đoạn khó khăn 1975-1990 và giai đoạn khởi sắc 1990-2002.

Giai đoạn Từ 1975 đến 1990.

Sau chiến thắng vĩ đại 1975, đất nước thống nhất, nhưng hậu quả chiến tranh còn rất nặng nề, thì tiếp đó lại thêm 2 cuộc chiến tranh biên giới (phía Tây Nam và phía Bắc) khiến ta phải huy động nhiều sức người sức của, cộng với những trì trệ về kinh tế cùng với những thiệt hại do những sai lầm trong chính sách “ giá - lương - tiền”... nên đất nước vẫn còn nghèo nàn, khó khăn, do vậy kinh phí hoạt động của trường rất eo hẹp, đời sống thầy cô và sinh viên rất gieo neo. Xuất hiện làn người di tản với hy vọng tìm được cuộc sống no đủ hơn.

Năm 1986, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra các nghị quyết về công tác đổi mới nhưng phải một thời gian sau Nghị Quyết của Đại Hội Đảng VI mới thật sự đi vào cuộc sống. Do vậy, giai đoạn 1975-1986 vẫn là giai đoạn rất khó khăn của trường. Tham khảo về sự mất giá đồng tiền trong giai đoạn khủng hoảng: Thiếu gạo trầm trọng, khiến giá gạo ở thị trường tự do lên rất cao; do vậy nếu tính quy đổi tiền mặt từ tem phiếu, thì lương của y công cao hơn lương bác sĩ không công tác trong ngành ngoại sản và độc hại: y công được hưởng 21 kg gạo, còn bác sĩ chỉ được 13,5 kg.

Quy định ngày 3-5-1985 hiến máu được bồi dưỡng 500 đồng/100ml, trong khi đó lương phó giáo sư 463 hoặc 505 đồng, đến 15-9-1990 quy định lại về giá máu truyền: đã là 15.000đ (gấp 30 lần) và ngày 12-2-1991 tăng thành 32.000đ ( 64 lần) mà vẫn khó tìm ra người cho máu. Cán bộ trường đại học Y Hà nội đành vi phạm lệnh của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội (số 113/QĐ-UB, ngày 02-3-1970) nghiêm cấm nuôi lợn trong nội thành.

Trong tình cảnh khó khăn như vậy, trường đại học Y Hà Nội với kinh phí hạn hẹp vẫn hoàn thành nhiều việc to lớn và có ý nghĩa. Có lẽ không ai có thể đánh giá công sức của thầy trò nhà trường cùng với các trường đại học khác đóng góp vào sự nghiệp y tế và giáo dục để đất nước Việt Nam lẽ ra xếp gần cuối bảng (dựa trên chỉ số thu nhập đầu người) lại vươn lên tới vài chục bậc (dựa trên chỉ số phát triển con người ), nhờ vậy giảm đáng kể sự yếu kém của nước ta trước con mắt quốc tế.

Năm 1978, GS. Nguyễn Trinh Cơ mời đồng chí Đỗ Mười, hồi đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tới thăm Trường. Đồng chí Đỗ Mười chính là người giới thiệu GS. Nguyễn Trinh Cơ ra nhập Đảng năm 1946 tại mặt trận Nam Định. Thông cảm vơớinhưũng khó khăn về chỗ ở của cán bộ công nhân viên nhà trường. Đồng chí đã quyết định cho Trường một khu nhà lắp ghép 5 tầng và giao cho Bộ xây dựng thực hiện ngay. Sau một năm, các khu nhà B1, B2, B3 đã được hoàn thành. Ngày 2 tháng 9 năm 1979, gần 200 hộ gia đình CBCNV của nhà trường phấn khởi đón nhanạ những căn nhà mới.

Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là chính phủ chính thức công nhận trường đại học y Hà Nội là trường trọng điểm quốc gia.Trong quyết định về việc tổ chức lại một bước công tác đào tạo của ngành Đại học số 110/HĐBT ngày 8 tháng 4 năm 1985 do Phó Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Võ Nguyên Giáp ký, tại điều II, mục 1 và 1.5 đã quyết định Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội là trường trọng điểm cho cả nước của ngành y. Chúng ta có quyền tự hào vì Đảng và nhà nước đã đánh giá cao sự đóng góp của trường.

Có thể tóm tắt các công tác lớn của trường lúc đó như sau:

1- Phải đáp ứng yêu cầu rất cao về số lượng bác sĩ ở cả hai miền. Địa chỉ của bác sĩ ra trường khi đó vẫn là tuyến huyện; thời điểm mới thống nhất đất nước, mỗi huyện miền Bắc có trung bình 2-4 bác sĩ, còn lại là y sỹ các chuyên khoa; còn ở miền Nam nhiều huyện chưa có bác sĩ nào. Thời điểm đó, số bác sĩ của Việt Nam vẫn chủ yếu do trường Y Hà Nội đào tạo. Cơ chế thị trường chưa xác lập, do vậy Nhà Nước vẫn bao cấp cho từ khi vào đại học cho đến khi phân công công tác cho bác sĩ mới ra trường.

2- Phải vực dậy hai trường Y ở miền Nam mới giải phóng. Không thể đơn độc làm nhiệm vụ đào tạo như trên, trường Y Hà nội đã có những đóng góp chủ yếu để hai trường Y miền Nam (Huế và Sài Gòn) có thể hoạt động trở lại, đồng thời vẫn phải tiếp tục hỗ trợ hai trường Y ở miền Bắc (Thái Bình, Bắc Thái), gồm: chi viện giảng dạy, tiếp tục san sẻ và đào tạo cán bộ, hỗ trợ sách giáo khoa... Ngoài ra, còn bắt tay xây dựng Trường Y Hải Phòng (lúc đầu, trường Y Hải Phòng được gọi là “phân hiệu”, thuộc trường Y Hà Nội).

3- Phải thực hiện vai trò trường trọng điểm:

Cũng trong giai đoạn này, Trường bắt đầu có những cố gắng trong mở rộng đối ngoại do chính sách mở cửa mang lại.

Nghiên cứu. Thầy cô toàn trường, trong hoàn cảnh ngặt nghèo về cuộc sống và về kinh phí, vẫn cố gắng nghiên cứu khoa học mặc dù đề tài còn hạn hẹp và chưa có điều kiện đi sâu. Kết quả nghiên cứu ngoài những ứng dụng thực tiễn và báo cáo ở các hội nghị, còn giúp cho nhiều thầy cô đạt được các chức danh khoa học. Gần tám chục luận án phó tiến sĩ được bảo vệ. Trong quá trình phát triển, hàng chục đơn vị chuyên môn được thành lập. Thầy cô của trường vẫn tiếp tục được bổ nhiệm vào các chức vụ khoa học và quản lý ở các viện, bệnh viện (dù không thuộc trường).

Nhờ nghiên cứu, trong 15 năm đó trường có thêm 60 giáo sư bậc I và bậc II (nay là phó giáo sư và giáo sư). Đồng thời cũng vắng bóng nhiều thầy có công lao lớn: thầy Di, thầy Tùng, thầy Nguyên, thầy Tước, thầy Hợp, thầy Hoè là những GS đầu tiên của trường; rồi tiếp đó là các thầy Cơ, thầy Doãn, thầy Thái....

Nhờ đổi mới cách nhìn, trường ta đã kỷ niệm 80 năm thành lập. Điều này tạo tiền lệ để trường kỷ niệm 90 năm thành lập. Thời kỳ 1902 - 1945 được thừa nhận là thời kỳ trường này có những đóng góp nhất định cho đất nước.

a) Trường Y Hà Nội hai lần cải cách giáo dục: lần 1, để chương trình phù hợp với mục tiêu mới (bác sĩ về huyện, thay vì bác sĩ cho chiến trường và cho quân đội, như trước đó). Mục tiêu này chung cho cả các trường y khác: đó là bác sĩ đa khoa, để trên cơ sở này sẽ đào tạo tiếp chuyên khoa (sau đại học); lần 2, khi tuyến huyện đủ bác sĩ, trường đào tạo bác sĩ đa khoa định hướng cộng đồng, với nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu.
b) Nhiệm vụ đào tạo sau đại học phải trở thành nhiệm vụ chính, quan trọng như (hoặc hơn) đào tạo đại học. Sau 15 năm nỗ lực thí điểm đào tạo sau đại học, khi sắp bước sang thập kỷ 90 trường đã đủ khả năng mở rộng mọi loại hình. Đã tổ chức đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I tại một số địa phương. Ngoài ra, nhờ chủ trương đưa bằng cấp vào các tiêu chuẩn chức danh, việc đào tạo SĐH phát triển mạnh từ 1990 - 1992, kể cả đào tạo NCS. Hội nghị tổng kết ba năm đào tạo SĐH (1989 - 1992) đã quyết định tìm biện pháp làm “liên thông” giữa các bằng cấp nội ngành với bằng cấp quốc gia.

Người đề xuất và đứng ra tổ chức lễ kỷ niệm 80 năm thành lập trường là giáo sư Nguyễn Năng An, khi đó đang là phó hiệu trưởng, làm việc dưới quyền của giáo sư hiệu trưởng Nguyễn Trinh Cơ. Chúng ta cũng giữ lại được Viện Giải phẫu lịch sử, lẽ ra đã bị mất. Và cũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên Bộ Y tế dựa vào kết quả bầu hiệu trưởng để ra Quyết định bổ nhiệm.

MỤC TIÊU, CHƯƠNG TRÌNH GIAI ĐOẠN 1975 – 1990.

Tóm tắt giai đoạn đào tạo bác sĩ trước 1975

Từ thập kỷ 60, trường bắt đầu đào tạo bác sĩ đa khoa cho tuyến huyện, với những mục tiêu sau này bị nhận xét là quá cao (có tính chất là những “kỳ vọng” hơn là mục tiêu). Thực ra, nếu một huyện chưa có bác sĩ nào, thì bác sĩ đầu tiên về đó phải là đa khoa, phải giải quyết rất nhiều vấn đề thuộc các chuyên khoa khác nhau.. Ngoài đa khoa ra, vẫn phải đào tạo một tỷ lệ bác sĩ chuyên khoa sơ bộ (tức là chuyên khoa trong đại học) cho tuyến tỉnh và tuyến trung ương - vì sự phát triển tự nhiên của các tuyến này.

Tuy nhiên, số bác sĩ về huyện không nhiều như dự định - vì chiến tranh đã xảy ra. Riêng số bác sĩ đi chiến trường miền Nam và vào quân đội đã tới trên 2000. Ngoài ra số chuyên khoa sơ bộ bổ sung cho tuyến trung ương và tỉnh theo thống kê sơ bộ cũng khoảng gần 1000; trong đó, riêng số bác sĩ được giữ lại trường Y Hà Nội từ 1965 đến 1975 không dưới 200 (trong đó có khoảng 2/3 trụ lại được, số còn lại, vì nhiều lý do, đã xin đi khỏi trường: đa số lại trở về đa khoa).
Ngày nay, bác sĩ chuyên khoa được đào tạo sau khi tốt nghiệp đa khoa, nhờ vậy sẽ có nền tảng vững chắc. Nhưng cách đây 30-40 năm vấn đề không đơn giản như vậy. Số bác sĩ còn rất thiếu so với nhu cầu, y sĩ trung cấp vẫn phụ trách cả một buồng bệnh, thậm chí là trưởng khoa, thì không thể dành ra 2 năm sau khi tốt nghiệp để đào tạo chuyên khoa. Vậy, chỉ có thể chuyên khoa trong đại học. Cũng hồi đó, có sự giằng co giữa tỷ lệ đa khoa và chuyên khoa và nếu tỷ lệ này quá xa thực tế thì sẽ gây lãng phí, vì phải đào tạo lại mới làm được việc. Nói chung, bác sĩ về huyện phải là đa khoa nếu như mỗi huyện chưa có, hay mới có 1-2 bác sĩ; còn ở tuyến trên (tỉnh, trung ương) thường phải là chuyên khoa.

Năm 1966, tuyến tỉnh mới gần đủ bác sĩ, nhưng đã bắt đầu có bác sĩ về huyện, do vậy khóa sinh viên vào trường năm 1966 (ra trường năm 1972) chỉ có 2,6% chuyên khoa, còn lại là đa khoa. Khoá này có một tỷ lệ cao về huyện và đi B, do vậy đa khoa là thích hợp. Nhưng do nhiều yếu tố tác động vào, tỷ lệ chuyên khoa cứ tăng nhanh, cho đến khoá vào trường 1971 (ra trường 1977), tỷ lệ chuyên khoa đã là 66,6%, tức 2/3.

Một bác sĩ chuyên khoa sản đi B, hoặc một bác sĩ chuyên khoa thần kinh về huyện hẳn là sẽ ít phù hợp trong tình hình và đặc điểm bệnh tật của thập kỷ 60, do vậy gây những lãng phí nhất định. Nhưng điều đó thực tế đã xảy ra thông qua phiếu điều tra. Nguyên nhân làm cho tỷ lệ chuyên khoa cứ tăng cao hàng năm, trái với chủ trương ban đầu, là:
1) do các cơ sở y tế ở tỉnh và trung ương yêu cầu (trực tiếp lên bộ Y tế), làm cơ sở cho Vụ Kế Hoạch áp đặt cho trường;
2) tâm lý không thích đa khoa, mà thích chuyên khoa hơn (có cả hy vọng được làm việc ở các tuyến cao, hơn là về huyện), do vậy người học dùng các mối quan hệ để đạt được mong muốn.

Vụ Kế hoạch của Bộ Y tế hàng năm giao cho trường những tỷ lệ đa khoa và chuyên khoa rất ít phù hợp với thực tiễn, vì số bác sĩ ra trường theo tỷ lệ này phải làm trái chuyên khoa (theo điều tra) lên tới trên 50%.

Ví dụ, năm 1968 trường được giao đào tạo 10 bác sĩ chuyên khoa Sinh Lý Bệnh cho các trường dịa phương và cho miền nam, cuối cùng chỉ có 3 người được làm đúng chuyên khoa. Điều này cũng có những nguyên nhân: 1) rất nhiều “chỉ tiêu theo kế hoạch” do cấp trên áp đặt cho cơ sở là không có cơ sở, nặng về cảm tính (đó là tình hình chung của thời kỳ bao cấp, hành chính); sự lãng phí không được rút kinh nghiệm để sửa đổi kịp thời. 2) chiến tranh diễn ra khiến các dự định bị thay đổi, đảo lộn.

Từ năm 1975: Giai đoạn trung gian

Năm học 1974-1975, qua điều tra bằng phiếu, đồng thời xem xét các số liệu có sẵn, trường muốn điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp với tình hình mới.

Tình hình khi đó là hàng ngàn bác sĩ đi B trở về bổ sung cho màng lưới y tế ở tỉnh và huyện; rất nhiều người ở lại miền Nam nhờ vậy màng lưới y tế ở đó không đến nỗi quá mỏng manh như trước 1975. Một lượng lớn bác sĩ từ quân đội phục viên trở về dân y, phân bố cho y tế cả miền Bắc lẫn miền Nam. Các trường Y Thái Nguyên và Thái Bình đã có một số sản phẩm phục vụ xã hội. Do vậy nhu cầu bác sĩ đa khoa tuy vẫn còn, nhưng không còn gay gắt như trước. Đã có thể tăng tỷ lệ chuyên khoa, nhưng vấn đề đặt ra là chuyên khoa trong đại học hay sau đại học?.

Điều thống nhất qua các hội nghị về đào tạo của trường là về lâu dài, phải đào tạo bác sỹ chuyên khoa trên cơ sở đã tốt nghiệp đa khoa, và đó chính là chuyên khoa cấp I một hình thức đào tạo sau đại học. Thời điểm thích hợp là lúc tuyến huyện và tuyến tương đương ở cả hai miền đã tạm đủ bác sĩ.

Lúc này trong giai đoạn trước mắt được coi là giai đoạn trung gian, trường chủ trương đào tạo loại bác sĩ gọi là chuyên khoa diện rộng, hoặc gọi là đa khoa diện hẹp, nhưng vẫn là đào tạo trong đại học. Đối tượng này gồm 2 loại: Nội-Nhi-Lây và Ngoại-Sản. Điều này được coi là sáng kiến, vừa không mất nhiều thời gian đào tạo, vừa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Sáng kiến được phản ánh đầy đủ ở báo cáo Cải cách giáo dục 1977-1978 và sau đó còn đăng ở Tập san Đại học & Trung học Chuyên nghiệp (số 2.1981).

Tuy nhiên, chưa ai đánh giá sự đáp ứng thực tiễn của sản phẩm đào tạo ra, cụ thể là không thể tìm được văn bản chính thức đánh giá tác dụng của số bác sĩ “đa khoa diện hẹp” hay “chuyên khoa diện rộng” này. Qua một phần tư thế kỷ, trường vẫn không rõ các bác sĩ trên phát huy tác dụng ra sao và chuyên khoa cuối cùng của họ là gì, mặc dù đến nay họ vẫn đang làm việc. Dẫu sao, chuyên khoa “diện rộng” đến nay vẫn phát huy tác dụng ở vùng sâu hay miền núi - nơi còn thiếu bác sĩ nói chung và bác sỹ chuyên khoa nói riêng.

Khó khăn về nơi thực tập, điều kiện ăn ở của sinh viên tăng lên trường phải tìm cách khắc phục. Từ 14-10-1977, hàng năm trường gửi 70 sinh viên Y4 về đào tạo tiếp ở Hải Phòng cho đến hết Y6. Đó là những sinh viên quê ở vùng quanh Hải Phòng, khi tốt nghiệp sẽ phân phối công tác tại các địa phương đó. Bằng cách này, trường tận dụng được cơ sở thực tập, ăn ở và từng bước xây dựng một trường đại học y khoa ở đây.

Nhiều người còn nhớ rằng, dự kiến thành lập Trường Đại học Y Hải Phòng có từ những năm cuối của thập kỷ 60 với hiệu trưởng dự kiến là BS. Nguyễn Trinh Cơ; nhưng đến năm đó vẫn bất thành - một trong các lý do là trường này quá gần trường Thái Bình.

Tiếp đó, với vai trò trường trọng điểm, trường đại học Y Hà Nội đã đề xuất sự thống nhất chương trình đào tạo bác sĩ trong cả nước: gồm một thân chung (phần cứng) và phần mềm phù hợp với tình hình sức khoẻ và bệnh tật mỗi vùng. Đáng chú ý là chương trình đào tạo bác sĩ ở miền Nam hầu như rập theo chương trình nước ngoài.

Để thống nhất chương trình y khoa trong cả nước, từ 10 đến 16.6.1980, trường ta (đoàn bác sĩ Trương Văn Hợi) và trường thành phố Hồ Chí Minh (đoàn giáo sư Phạm Biểu Tâm) đã bàn chi tiết chương trình và đi đến 4 kết luận:
1) sau 5 năm, khi đã tạm đủ bác sĩ cho huyện thì chuyển hẳn sang đào tạo bác sĩ đa khoa, lấy đó làm cơ sở đào tạo tiếp chuyên khoa;
2) Trước mắt, tỷ lệ hai loại bác sĩ giữ tương đương, nhưng bác sĩ chuyên khoa sơ bộ sẽ giảm dần, thay bằng bác sĩ chuyên khoa cấp I;
3) Kê ra các môn bắt buộc, với số giờ tối đa, tối thiểu để mỗi trường tùy chọn. Đi bệnh viện từ Y2 để tăng cường khả năng thực hành; không học Đông Y quá sớm, khi chưa có hiểu biết nhất định về y học hiện đại;
4) Tổng số giờ giao dộng trong khoảng 5.835 - 6.875 cho 6 năm, trong đó thực hành labô và bệnh viện là 64%.
Có thể thấy rằng, ngoài một số thay đổi theo chiều hướng tích cực, thì về cấu trúc chung, đây vẫn là chương trình in đậm dấu ấn thời chiến: các môn cơ sở bị cắt giảm giờ; số giờ chính trị rất cao, quân sự tới 13 tuần, lao động chân tay tới 3-4 tuần. Theo chương trình công bố tháng 8.1979 thì các môn học Chính trị, Ngoại ngữ, Thể dục chiếm 16% tổng số giờ học của 6 năm (bằng cả 1 năm học), trong khi giờ của tất cả các môn khoa học cơ bản chỉ chiếm 9%.

Cho đến hơn 10 năm sau (bước sắp vào thập kỷ 90), các nhà làm chương trình vẫn tính toán rằng tất cả số bác sĩ đào tạo ra sẽ được thu hút vào biên chế, tức là hành nghề trong hệ thống y tế công lập. Tính chủ quan, duy ý chí trong lập kế hoạch ngày càng rõ, do vậy tính bất khả thi ngày càng cao.

Thực tế cho thấy trong giai đoạn thập kỷ 80 và 90 kinh phí cho ngành Y tế và Giáo dục thuộc loại thấp nhất vì bị coi là 2 ngành “phi sản xuất”. Lương Y tế và Giáo dục cũng thuộc loại thấp nhất nhưng cũng đã chiếm tới 60 hay 70% tổng linh phí. Tương tự như vậy tại các cơ sở khám chữa bệnh, kinh phí chi cho trang thiết bị và thuốc men cũng rất nghèo nàn nên hết sức khó khăn trong điều trị người bệnh. Chưa bao giờ cả thầy thuốc và bệnh nhân khổ như lúc đó. Hiến pháp ghi rõ “chữa bệnh không mất tiền” càng làm cho ngành y tế lúng túng và bế tắc.

Thực hiện mục tiêu đào tạo bác sĩ chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Từ 1985-1986, tám trường Y trong cả nước hàng năm đã đào tạo đều đặn trên 1000-1500 bác sĩ, nhờ vậy tuyến huyện về cơ bản đã đủ bác sĩ. Nhưng cũng thời điểm này khó khăn của đất nước lên đến đỉnh điểm. Trường Y Hà Nội, nhận thức được cần có bác sĩ về tuyến cơ sở, nên đã đề xuất mục tiêu bác sĩ đa khoa thực hành, hướng về chăm sóc sức khỏe ban đầu, nơi làm việc của họ là tuyến cơ sở (tuyến phổ cập), và cố nhiên là trong biên chế (như chế độ bao cấp quy định hồi đó).

Thống kê tháng 1.1981 cho thấy: năm 1979 ta có 12.260 bác sĩ (ở cả hai miền), trong đó 2/3 do trường Hà Nội đào tạo, nhưng tuyến huyện mới chỉ nhận được 3030 bác sĩ. Tính ra huyện miền Bắc trung bình có 7,5 bác sĩ, còn huyện miền Nam là 4,6. Đến 1985, số bác sĩ cả nước tăng lên gấp rưỡi (cụ thể là 18.875 người), số về huyện tăng rất đáng kể. Như vậy, về cơ bản, có thể chuyển sang đào tạo 100% bác sỹ đa khoa cho tuyến cơ sở (tuyến phổ cập) và trên cơ sở này chọn ra một tỷ lệ đào tạo chuyên khoa sau đại học (tức Chuyên khoa cấp I: cho tỉnh, sau đó sẽ cho huyện). Do vậy, mục tiêu đào tạo phải thay đổi.

Giáo sư Hoàng Đình Cầu, tác giả đề án này, nêu rõ: bác sĩ đa khoa thực hành trường ta sắp đào tạo là bác sĩ gia đình, biết điều trị bệnh thông thường, biết áp dụng các biện pháp vệ sinh cho cộng đồng, biết vận động nhân dân, có khả năng cộng tác với đồng nghiệp và huấn luyện cấp dưới. Tóm lại, đây là bác sĩ công lập, có giác ngộ cao, có trình độ chuyên môn phù hợp, làm việc trong một tổ chức và toàn tâm toàn ý phục vụ cộng đồng.

Để thực hiện cải cách giáo dục, ngoài sự thay đổi mục tiêu, còn phải thay đổi chương trình, viết lại sách giáo khoa, cải cách sư phạm, cải tiến thi cử và nhiều việc khác cho phù hợp với mục tiêu, mà việc nào cũng đòi hỏi kinh phí cao và tiến hành đồng bộ; do vậy rất dễ thất bại nếu không đủ các nguồn lực. Nhưng nếu thực hiện được sẽ đưa lại hiệu quả cao gấp bội so với số kinh phí đã bỏ ra.

Trong chương trình cải cách lần này, các môn y học cơ sở được dồn nén vào 2,5 năm đầu (trước là 3 năm) để dôi ra một học kỳ dành các buổi sáng cho sinh viên đi bệnh viện sớm để tăng khả năng thực hành. Các môn y học xã hội được tăng cường, hi vọng sẽ trở thành một vế cân bằng với các môn y sinh học và sẽ có tác dụng giúp ích thiết thực cho bác sĩ làm việc ở cộng đồng Đáng chú ý là tiêu chuẩn về chính trị và đạo đức cách mạng lại khá cao, với tính toán là tất cả bác sĩ đào tạo ra sẽ là cán bộ nhà nước, có lập trường và quan điểm phục vụ, có tinh thần tập thể và khả năng hợp tác với đồng nghiệp, làm việc trong biên chế Nhà nước, ở tuyến cơ sở.

Trường có thể tự hào đã rất sớm đề ra mục tiêu đào tạo từ năm 1966 trong lúc ở Việt Nam chưa trường nào tiến hành. Do chưa hiểu thấu đáo về mục tiêu nên nhiều khi ta viết mục tiêu như là sự “kỳ vọng”, hoặc như những “yêu cầu” của nhà trường mà bác sĩ phải có, chứ không phải những kỹ năng nghề nghiệp mà nhà trường phải dạy kỳ được cho sinh viên, thể hiện ở nội dung chương trình và cách đánh giá. Điển hình nhất là khi viết mục tiêu về lập trường, đạo đức cách mạng.

Mở đầu cuộc cải cách với mục tiêu mới là các buổi khai giảng lớp sư phạm y học. Ví dụ, lớp 20-10-1986, kéo dài 10 ngày, giảng viên là các thầy Lê Nam Trà, Phạm Gia Khải, Đào Xuân Tích... Sau lớp này, còn những lớp “vét” để đảm bảo hầu hết các thầy cô trong trường được học.

Ngày 20, 21, 22 học về mục tiêu; 3 ngày sau dành cho các bài về phương pháp lượng giá. Theo hướng dẫn, sau khi đề ra mục tiêu, phải đề ra ngay cách lượng giá’ Khi dạy và học một mục tiêu nào đó, cả thầy và trò đều biết rõ mục tiêu đó sẽ được đánh giá kết quả dạy và học như thế nào và phải có ngay thang điểm cho mục tiêu đó. Đã là mục tiêu, nhất thiết phải được học, phải thi và phải có điểm thi. Do vậy khó nhất là đánh giá mục tiêu về lập trường, đạo đức. Bốn ngày sau dành cho phương pháp dạy và học bằng môđun.

Trong 4 ngày cuối, có một ngày (28-10-1986) dành riêng để giáo sư hiệu trưởng Hoàng Đình Cầu thuyết trình về mục tiêu của ngành Y tế đến năm 2000. Hồi đó, ai cũng thấy năm 2000 còn rất xa và các mục tiêu là hơi thấp đối với một nước đang tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội.

Đây là nội dung thầy Cầu kiên nhẫn trình bày trong mọi dịp, để những người dù ít liên quan cũng nên biết. Như vậy chỉ có lợi. Cụ thể, đến năm 2000, ngoài 8 điểm tuyên ngôn Alma Ata khuyến nghị (giáo dục sức khoẻ; cải thiện ăn uống; cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường; sinh đẻ kế hoạch và bảo vệ bà mẹ trẻ em; tiêm chủng mở rộng; khống chế các bệnh dịch lưu hành; khám và chữa bệnh thông thường; cung cấp thuốc thiết yếu), ngành Y tế ta còn đề thêm hai điểm: 1) Toàn dân có hồ sơ sức khoẻ, được theo dõi định kỳ; 2) Xây dựng y tế cơ sở rộng khắp và quản lý tốt nó. Bác sĩ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, công tác ở cơ sở chính là lực lượng sẽ thực hiện 8 điểm đầu và 2 điểm cuối cùng này - với điều kiện phải có đủ biên chế thu nhận họ vì thu nhập chung của người dân ở cộng đồng chưa cho phép có hệ y tế dân lập.

Thời gian này, rất nhiều ý kiến trong ngành và ngoài ngành Y phát biểu trên báo chí và đài phát thanh về tỷ lệ bác sĩ quá thấp của nước ta - một nước xã hội chủ nghĩa - (so với các nước tư bản, thậm chí với các nước quanh vùng). Nhưng rất ít ai nghĩ rằng đào tạo bác sĩ chưa khó bằng kiếm ra kinh phí nuôi họ đủ sống để họ yên tâm làm việc trong hệ thống công lập. Quỹ lương trả cho bác sĩ thực chất là do dân đóng góp, nhưng kinh tế nước ta còn nghèo, nhất là những năm 80 dân ta đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, do vậy quỹ lương đã không kham nổi số bác sĩ đào tạo ra. Đã vậy, tư tưởng bao cấp vẫn rất nặng nề, sự hiểu biết về nền kinh tế thị trường vẫn phiến diện và nông cạn. Hồi đó, người ta không thể quan niệm bác sĩ nước ta một nước đã được đổi tên là nước xã hội chủ nghĩa lại có thể khám bệnh tư.

ở Sài Gòn, khi xét một bác sĩ vào Đảng hay đi nước ngoài, bao giờ cũng thẩm tra xem “có khám tư hay không”. Ngày 14-4-1984, bộ trưởng Đặng Hồi Xuân ký chỉ thị (số 48/YK/TC) gửi toàn ngành Y về việc cấm làm tư, cấm bỏ việc, không nhận sự phân công... (chỉ thị này căn cứ vào thông tư của Hội đồng bộ trưởng chủ trương không khám chữa tư, vì nó trái Hiến Pháp (chữa bệnh và đi học không mất tiền). Khám bệnh tư và dạy học tư bị đặt trong khái niệm bóc lột. Bộ trưởng đã vào tận Sài Gòn để chấn chỉnh tình hình. Còn ở trường Y Hà Nội, tới tận năm 1992 mà bài kiểm tra viết Chính Trị cho sinh viên Y6 (sắp ra trường) còn có câu hỏi ‘Bác sĩ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa khác bác sĩ dưới chế độ tư bản như thế nào. Thật khó trả lời; tuy nhiên, nếu bài nào đưa ý “không khám tư” vào, sẽ đúng đáp án.

Ngày 27 và 28-11-1986 tại Đại hội công nhân viên chức, tình hình đào tạo đại học được nhận định như sau: chất lượng thực hành và chất lượng chính trị đều giảm, các điều kiện vật chất phục vụ giảng dạy đều bất cập, nhất là kinh phí.

Báo cáo của bác sĩ Hoàng Hữu Đốc, phó hiệu trưởng phụ trách hậu cần, rất được chú ý. Riêng khoản lương, phụ cấp, học bổng đã chiếm 68% tổng kinh phí của trường. Cụ thể: lương, bảo hiểm, học bổng là 7.439.000 đồng, còn số tiền được cấp là 11.037.000 đồng. Đây là số tiền gấp đôi kinh phí năm 1985, nhưng vật giá ở thị trường lại tăng gấp 5 hay 10 lần (xem bảng dưới)

MẶT HÀNG MỨC TĂNG GIÁ SO VỚI NĂM TRƯỚC (số lần)
Hoá chất, thiết bị, máy Hàng trăm lần
Súc vật 15 lần
Giấy, phấn nội địa 8 lần
Xà phòng 6 lần
Bóng đèn 16-28 lần
Gỗ, đồ gỗ 20 lần
Xi măng 4 lần
Vôi 9 lần
Sắt thép xây dựnghàng trăm lần 35 lần

Trường thu được 10.000 U$D tiền tổ chức hội nghị quốc tế, Bộ Y tế trích lại 10%; số còn lại đổi sang tiền Việt (bằng cách mua hàng ở cửa hàng quốc tế Giảng Võ để bán cho được giá hời) được 1.349.000 đồng. Tính ra, 1 U$D giá trị bằng 150 đồng. Từ đó suy ra tổng kinh phí của trường tương đương 74.600 U$D, và lương phó giáo sư (505 đồng) tương đương 3,7 U$D. Thực ra, phó giáo sư còn được mua 13,5 kg gạo, 1 kg đường và 1,5 kg thịt theo giá tem phiếu; do vậy nếu kể cả hiện vật thì lương ông ta khoảng 10-12U$D chưa kể bao cấp về tiền nhà và tiền điện.
Một năm sau, tại Hội nghị công nhân viên chức, tình hình kinh phí không cải thiện mà còn xấu đi. Được cấp 16.758.000 đồng, riêng chi cho lương, phụ cấp, công tác phí, y tế, bảo hiểm, học bổng, điện, nước, ... đã hết gần 90% kinh phí. Chi cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học chỉ có 1.861.000 đồng, chiếm 7% tổng kinh phí. Lương quá thấp, nên cần nhắc lại công sức rất lớn của ông Trần Văn Luận và nhất là ông Trương Xuân Ngọc đã bỏ ra khi phụ trách xưởng sản xuất thuốc Philatốp để đem lại cho trường số tiền phúc lợi rất lớn, bù đắp vào lương (và cả kinh phí chung).
Tiến hành cải cách giáo dục trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như vậy nhưng đa số vẫn rất nhiệt tình, hăng hái thực hiện không tiếc công sức.

Ngày 7-4-1987 trường có cuộc họp về chất lượng thực hành của sinh viên. Những người quan tâm nhất và có trách nhiệm thừa hành đã tới dự và góp ý. Cuộc họp đã đi đến thống nhất là không nên coi các giờ thực tập Giải Phẫu, Mô Học, Hoá Sinh, Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh là “thực hành”, mà chỉ là để minh hoạ lý thuyết. Nhưng nếu sinh viên vận dụng tốt lý thuyết vào thực tiễn thì lại được coi là khả năng thực hành. Mặt khác, ở bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức không còn bệnh thông thường giống như bệnh lý ở tuyến cơ sở nữa. Phải xây dựng thực địa, nhưng lại không có kinh phí. Ngay súc vật thực tập cũng sẽ bị cắt giảm. Giáo sư hiệu trưởng chủ trương coi ký túc xá cũng là thực địa cộng đồng để thầy trò tham quan và cải tạo nó.

Ngày 05-9-1988 có cuộc họp về súc vật thực tập, mời bác sĩ phụ trách giáo vụ của các bộ môn cơ sở tới dự. Riêng chó, năm vừa qua (1987-1988) đã dùng hết 361 con (thành tiền 9.025.000 đồng); 213 thỏ (1.278.000 đồng); ếch 252 kg, gà 80 con (400.000 đồng); chuột nhắt 424 con (212.000 đồng)... Tổng cộng 11.001.000 đồng. Kinh phí được cấp không thể kham nổi, nếu năm học tới các bộ môn cứ dự trù như năm qua. Chính thời gian này bộ môn sinh lý bệnh có sáng kiến thay các bài thực tập phải dùng súc vật bằng các bài phân tích kết quả xét nghiệm (phân tích huyết đồ, niệu đồ, ion đồ...), tuy nhiên, tại hội nghị bàn về chất lượng thực hành này, phó giáo sư Dương Chạm Uyên đã phát biểu: không nên tốn thì giờ dạy sâu vào phân tích các xét nghiệm, vì về cộng đồng không thể có...

Ngày 21-10-1987, Hội nghị công nhân viên chức họp vào giai đoạn cuộc cải cách giáo dục đang được đẩy mạnh tới cao trào. Mọi người thấy năm học này đầy khó khăn, đời sống vẫn còn phải bươn chải, nhưng có thể hi vọng vào phúc lợi vì việc sản xuất Philatốp được chú ý đúng mức.

Giáo sư hiệu trưởng phát biểu: Hội nghị quốc tế ở Tokyo về đổi mới đào tạo y tế để chuẩn bị cán bộ cho thế kỷ 21; nó phù hợp với yêu cầu của chúng ta, nhưng phải có nỗ lực rất lớn mới thực hiện được. Cải cách giáo dục ở trường đã được đề ra từ 3 năm nay, đến lúc này phải tích cực đẩy nhanh tiến độ. Phải sớm áp dụng phương pháp sư phạm mới để tăng tính chủ động học tập của sinh viên. Phải có mục tiêu và kiên quyết thực hiện: bác sĩ ra trường sẽ làm việc ở tuyến phổ cập, miệng nói tay làm, phải quản lý sức khoẻ và chăm sóc ban đầu, chữa bệnh ngoại trú. Điểm dân cư 30.000 dân phải có một phòng khám đa khoa. Sinh viên cần có đủ tài liệu học tập và phải được phát từ trước. Mỗi sinh viên có chương trình của cả 6 năm học để tự lập lấy kế hoạch học tập của mình...

Cũng do quá eo hẹp về kinh phí, suốt quá trình đào tạo theo mục tiêu mới, hầu như không có cuốn sách giáo khoa nào được viết ra theo mục tiêu, nhất là những sách về y học xã hội. Hầu hết các thầy tuy đã được học phương pháp sư phạm mới, nhưng chủ nhiệm các bộ môn lại không học, hoặc chỉ học qua loa, không quan tâm, nên không đứng ra tổ chức áp dụng điều đã học. Mặt khác, không phải cứ từng bộ môn muốn áp dụng phương pháp sư phạm mới mà được, vì đây là việc phải làm dưới sự tổ chức, chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của hiệu trưởng. Điều không được phép quên là phải có dủ kinh phí, ví dụ kinh phí để ngăn các giảng đường lớn chứa cả trăm người như hiện nay thành các giảng đường nhỏ để dạy theo phương pháp sư phạm mới...

Tới 1992, có 2 khóa bác sĩ ra trường theo mục tiêu này nhưng rất khó đánh giá chất lượng; thứ nhất, vì điều kiện tối thiểu để thực hiện mục tiêu cũng không đủ (ví dụ, không có thực địa cho họ học); thứ hai, vì họ không làm việc ở đúng địa chỉ mà ta mong muốn. Có hai nguyên nhân cụ thể: 1) đa số bác sĩ tân khoa không tìm được biên chế 2) nhiều người hoàn toàn không tự nguyện làm việc ở cơ sở, nhưng nguyên nhân chính là lương không đủ sống lại phải đi vùng xa. Số bác sĩ thất nghiệp có chiều hướng tăng. “Nguyên nhân của nguyên nhân” vẫn là ngân sách quá thấp, không đủ quỹ lương để thu nhận họ vào biên chế; nếu thu nhận được thì trả lương ở mức không thích hợp.

Người ta nhớ đến kinh nghiệm của thế giới mà UNESCO tổng kết: Cải cách giáo dục ở các nước nghèo hầu hết thất bại chủ yếu do duy ý chí và thiếu tiền (chứ không phải kế hoạch đặt ra có sai sót về chuyên môn, kỹ thuật) vì vậy chỉ làm được ở mức nửa vời, đưa đến lãng phí lớn cho các nước đó.

Thời điểm 1985-86, ăn no mặc đủ luôn là mối lo hàng ngày của thầy cô. Sinh viên là lớp người sống khổ nhất, dù 100% có học bổng. Thù lao giờ giảng của giáo viên, do tiền mất giá, phải đối phó bằng cách cho phép họ khai tăng giờ thực giảng lên gấp 2, 3 hay 4 lần; sau dần dần dẫn đến chỗ vô lý (một buổi sáng có giáo sư già có thể giảng 8, 10 hay 12 giờ).) Để đối phó với tình trạng mất giá quá nhanh của đồng tiền cũng như giờ giảng lại phải qui ra gạo (2kg/giờ nên không hiếm bộ môn đã khai tăng giờ gấp đôi. Cũng 1986, chính phủ ra hai văn bản (ngày 29-6) đảm bảo học bổng, sinh hoạt phí, đời sống tối thiểu cho sinh viên, nhưng ít mang lại hiệu quả vì sự điều chỉnh không theo kịp tốc độ đồng tiền mất giá.

Việc phân công bác sĩ bắt đầu khó khăn, số nơi nhận ít hơn so với con số đào tạo.

Ngày 10-7-1987, chính phủ ra Quy Định mới về phân phối:

1 - Ưu tiên quân đội (nhưng lúc này quân đội đang cho chuyển ngành bớt)
2 - Trả về địa phương sử dụng (nhưng lúc này địa phương không có biên chế để nhận, nhất là khi hệ thống y tế xã xuống cấp và tan rã hàng loạt vào những năm đó).

Sinh viên rất khó có biên chế sau khi tốt nghiệp.Ngay nội trú cũng bắt đầu khó tìm chỗ làm việc. Ngoài con đường vào biên chế, họ không được phép hành nghề ở đâu khác và dưới hình thức nào khác vì lúc này chưa chấp nhận hành nghề y tư nhân.

Xuất hiện mâu thuẫn mới: Đào tạo thực tiễn và đào tạo tiềm năng.

Tổ chức Y tế Thế giới luôn luôn khuyến nghị các nước nghèo đào tạo nhân viên y tế phải sát với thực tiễn - mà trong kế hoạch đào tạo “bác sĩ chăm sóc sức khoẻ ban đầu” trường đang cố áp dụng, thì Bộ Giáo Dục-Đào Tạo và Bộ Y Tế lại chỉ đạo toàn ngành đào tạo cán bộ tiềm năng. Chủ trương này hai Bộ không gọi là “cải cách giáo dục” mà chỉ là “cải cách đào tạo”, nghĩa là đã khiêm tốn hơn nhiều.

Đào tạo sát thực tiễn gồm: dạy theo vấn đề, giảm thiểu lý thuyết, tăng cường thực hành để có thể thực sự làm việc được ngay sau khi ra trường. Chính đề án cải cách giáo dục của trường ta áp dụng cách này, có sự giúp đỡ của một số dự án quốc tế. Do vậy, chúng ta có phần cân nhắc thi hành sự chỉ đạo của Bộ Giáo Dục-Đào Tạo và Bộ Y Tế.
Đào tạo tiềm năng gồm hai giai đoạn, mỗi giai đoạn chia ra thành học phần, học trình. Các môn cơ bản và cơ sở được học đầy đủ và hệ thống (tạo tiềm năng), các môn nghiệp vụ không quá sâu, nhưng rộng (để linh hoạt thay đổi sau khi ra trường cho phù hợp với vị trí làm việc)... Còn gọi là “mềm hoá”.

Mâu thuẫn bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, trường phải chấp hành chủ trương của Bộ GD-ĐT, và đặc biệt là Bộ Y Tế vì đây là các cơ quan quản lý Nhà Nước của toàn ngành đại học và toàn ngành y tế. Tuy vậy, tới năm 1994 trường mới bắt buộc chính thức thực hiện những thay đổi do Bộ Giáo Dục-Đào Tạo và Bộ Y Tế ban hành các văn bản pháp quy bắt buộc. Đây là thêm một lần thay đổi cơ cấu chương trình, kéo theo thời khoá biểu, đổi cách thi cử, kiểm tra... Đã có một số khoá bác sĩ rơi vào các thay đổi và đảo lộn này: 1) các khoá chuyển tiếp (đang đào tạo theo niên chế sang cách đào tạo hai giai đoạn); 2) khoá “giai đoạn I đủ 2 năm”; và 3) các khoá “giai đoạn I dài 1,5 năm”.

Lúc đầu, Bộ Y Tế bắt buộc thực hiện giai đoạn I (giai đoạn đại cương) đào tạo trong 2 năm; còn giai đoạn II (học nghề) dài 4 năm; về sau do đặc thù học theo thứ tự các môn của ngành y nên Bộ đã chấp nhận phương án mềm hoá hai giai đoạn nghĩa là rút giai đoạn I xuống còn 1,5 năm rồi sau một thời gian ngắn, đào tạo “hai giai đoạn” bị chính Bộ GD-ĐT bãi bỏ.

Trước 1986, mọi bác sỹ khi ra trường đều phải nhận quyết định phân công công tác nếu không sẽ chịu kỷ luật. Nếu tới nhiệm sở chậm vài tháng vẫn bị kiểm điểm, thì trong giai đoạn này đã ngược lại, một số bác sĩ phải vật nài, thúc giục để được phân công vì không thể chờ lâu hơn nữa. Tình hình này được đối phó bằng cách giảm số lượng tuyển sinh. Những năm trước trung bình tuyển 400, nay đó chỉ còn 200 hoặc 300; nhưng không ổn vì số thí sinh tăng nhanh sau từng năm: hạn chế đào tạo đại học có thể đưa đến nhưng nguy cơ xã hội. Sau đó, các trường được phép đào tạo theo hai hệ: hệ A thi đậu chính thức (có học bổng và không phải nộp học phí: như quy định của chế độ bao cấp) và hệ B, gọi là hệ mở rộng (không học bổng, lại phải nộp học phí). Cũng thời gian này tiếng Nga mất dần vị trí, dù Liên Xô chưa tan rã. Môn Chính trị tuy không còn dạy thời sự, chính sách như trước đây mà đã dạy Triết học, Kinh tế, Chủ nghĩa xã hội khoa học..., nhưng tác dụng và hiệu quả còn thấp, do môn này chậm đổi mới, việc tuyển chọn cán bộ giảng từ giai đoạn trước đây không được chú ý. Thời kỳ này vẫn rơi rớt một suy nghĩ: chỉ có cán bộ chính trị mới có thể phụ trách tuyên giáo, tuyên huấn Ví dụ, khi cần tìm người phụ trách tờ báo nội bộ cũng phải tìm một cán bộ chính trị thuần tuý. Sau 1992, môn học này có nhiều đổi mới. Dần dần các thầy cô trong bộ môn bắt đầu có bằng tiến sĩ, thạc sĩ. Nội dung giảng dạy có nhiều cải tiến.

Đối tượng chuyên tu

Một thời gian dài, trường vẫn phải nhận đối tượng "chuyên tu", tức là y sĩ học bổ túc 2 năm thành bác sĩ. Chất lượng ngày càng giảm, do “đầu vào” ngày càng thấp kém. Rồi chương trình cho đối tượng này khá chắp vá, thời gian học ngắn và nơi thực tập bất cập, nên bị các thầy thống nhất đánh giá “chất lượng rất kém”..

Quan điểm chính thống để đào tạo bác sỹ chuyên tu là do y sĩ làm việc một số năm đã có có cống hiến cho tổ quốc do vậy phải được đãi ngộ bằng cách cho họ học lên để thành bác sĩ, với sự tuyển chọn dễ dãi hiếm thấy. Bản thân chủ trương này không phải là sai, chưa thể gây giảm chất lượng, mà sai sót chính là ở khâu tuyển chọn ban đầu và thời gian học quá ngắn, chỉ có 2 năm.

Đến năm 1986 - 1987 do có các trường Thái nguyên và Thái bình nên trường đại học Y Hà Nội chỉ còn dạy đối tượng chuyên tu Đông Y, nhưng trường lại mở thêm hệ cao cấp cho y tá, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên và do đó, thành lập thêm Khoa Tại Chức để phụ trách việc này và người phụ trách là bác sĩ Đặng Đình Nhân. Đến 28-11-1988 khoa này sáp nhập vào Phòng Giáo vụ, rồi giải thể và chỉ có một khóa tại chức ra trường, rồi chấm dứt.

Trước đây, trường đã đào tạo cho các đối tượng tương tự, nhưng chất lượng đầu vào rất cao, ví dụ lớp của các y sỹ Đặng Hồi Xuân, Lê Thế Trung, Nguyễn Kim Phong, Phan Dẫn, Phạm Kim... và công sức bỏ ra rất lớn vì đây thật sự là những đối tượng chính sách. Nhưng càng về sau, chất lượng tuyển vào càng thấp, không sao vực nổi, còn sự “cống hiến” chỉ ở mắc thường thường...
Cho đến khi trường đã xác định đào tạo sau đại học trở thành nhiệm vụ chính thì các đối tượng nói trên làm phân tán sức lực của trường. Dẫu thầy cô cố gắng đén đâu thì chất lượng học tập của các đối tượng đó vẫn thấp, do bị thấp từ đầu vào. Trường xin được miễn nhưng công văn ngày 19.5.1988 của Bộ Đại học vẫn “nhắc lại nhiệm vụ”. Tuy vậy, thông tư ngày 26.5.1989 của Bộ (về việc tuyển chuyên tu và dự bị đại học) gửi 13 trường, đã không gửi cho trường ta. Từ đó trường Y Hà Nội được miễn hẳn đối tượng này...

Đào tạo sau đại học 1975-1990

Đầu thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, vấn đề đào tạo sau đại học không đặt ra, vì số người tốt nghiệp đại học ở toàn miền Bắc chưa nhiều và chưa đủ thâm niên. Có một số ít được gửi học ở các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa.

Thủ Tướng Chính Phủ chính thức có quyết định số 97/TTg ngày 11-3-1977 do Phó Thủ Tướng Nguyễn Duy Trinh ký, giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học cho các trường trong đó có trường Đại Học Y Hà Nội, nhưng sớm hơn thế nhiều, Bộ Y Tế đã giao cho trường Y Hà Nội đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I và II (tác giả của chủ trường: giáo sư Hoàng Đình Cầu), và đã thực sự bắt đầu từ trong kháng chiến chống Mỹ. Hơn nữa còn mở thêm hệ Nội trú (do sự đầu tư công sức của giáo sư Nguyễn Trinh Cơ). Sau đó 17 năm Bộ Đại học mới đề ra hệ Cao học. Trường cũng chủ trương rất sớm sự "liên thông hóa" hai hệ này trong ngành y tế (từ 1992) và được Bộ GD-ĐT cho thực thi từ 1995.

Hệ bác sĩ chuyên khoa cấp I chiêu sinh thí điểm lần đầu ngày 4.11.1976 cho các bác sĩ ở Hải Phòng, khai giảng ngày 15.12.1976 do các thầy ở Hà Nội về giảng (học tập trung). Còn bác sĩ chuyên khoa cấp II đã được đào tạo từ 1972 để có cán bộ nguồn tại địa phương hướng dẫn thực hành cho bác sĩ chuyên khoa cấp I khi mở các lớp đào tạo tại chỗ.

Trên thực tế, hầu hết bác sĩ chuyên khoa II của địa phương sau khi được đào tạo đã xin chuyển về tuyến trung ương vì đa số họ là người Hà Nội và đã đóng góp công sức cho địa phương hàng chục năm có lẻ.

Tháng 4.1977, tổng kết 5 năm đào tạo sau đại học, các thành tích đạt được ban đầu là rất đáng kể vì thứ nhất đã tìm ra loại hình đào tạo phù hợp với ngành y tế, và thứ hai rất kịp thời, vì số bác sĩ có thâm niên cao đã tồn đọng rất nhiều.

Về thiếu sót: tiến độ chậm, không đáp ứng yêu cầu, nên số tồn đọng không giảm, mà ngược lại, ngày càng tăng.

Cách giải quyết đề ra theo văn bản ngày 17.3.1988 là: thứ nhất, đề xuất hình thức học theo chứng chỉ (5 chứng chỉ: Triết, 1 môn cơ sở, 1 môn hỗ trợ, ngoại ngữ trình độ B và môn chuyên khoa, gồm cả thực hành) và thứ hai, mở rộng về các địa phương tại những nơi có bệnh viện lớn và có đội ngũ hướng dẫn chuyên khoa tại chỗ.

Thêm một cách giải quyết tồn đọng nữa là năm 1985, trường công nhận đặc cách một đợt bác sĩ chuyên khoa cấp II, gồm hàng trăm người, cho tất cả những ai hội đủ các điều kiện: 1) thâm niên công tác 20 năm (ra trường từ 1965 về trước), đã liên tục làm đúng chuyên khoa ở tuyến tỉnh và trung ương trên 10 năm; 2) có ngoại ngữ trình độ C; 3) có công trình (đã đăng, in), đặc biệt là nếu có 1 - 2 năm bổ túc đúng chuyên khoa ở nước ngoài.

Nếu thâm niên chuyên khoa trên 10 năm và đủ một số tiêu chuẩn thì được công nhận bác sĩ chuyên khoa cấp I. Dù được công nhận cấp I hay cấp II, tất cả đều phải bổ túc 1-2 tháng tại trường về đường lối y tế, y xã hội học và viết thu hoạch.

Năm 1985, trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, nhờ có nhiều thầy, cô từ Hà Nội chuyển công tác vào, đã bắt đầu đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I, II và công nhận đặc cách cho số bác sĩ có thâm niên chuyên khoa 20 năm. Tiếp đó, các trường Đại học Y Bắc Thái, Thái Bình cũng đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I. Nhiều lớp do 3 trường trên được mở với sự chi viện giảng dạy của trường Y Hà Nội. Các trường này tổ chức thi tốt nghiệp và cấp bằng. Đến tháng 12.1990, ngành y tế có 2746 bác sĩ chuyên khoa cấp I, 1426 bác sĩ chuyên khoa cấp II, đại đa số do trường Y Hà Nội đào tạo hoặc cấp bằng.

Một loại hình đào tạo nữa là bác sĩ nội trú, tên gọi của hệ đào tạo ngành Y nước Pháp. Thời xưa, hệ này thi tuyển trong đại học (hết Y4 hay Y5), nay do khoa học phát triển nên chuyển thành đào tạo sau đại học.

Theo kết quả ký kết của thầy Tôn Thất Tùng, Pháp nhận đào tạo cho ta các bác sĩ nội trú. Lúc này, chế độ nội trú của Pháp cũng đã chuyển ra sau đại học. Giai đoạn đầu, cần ngay những người giỏi tiếng Pháp, ta gửi sang một số bác sĩ lâu năm (đã biết tiếng Pháp). Thực chất, các bác sĩ này đã quá tuổi và đã vượt qua trình độ nội trú Pháp từ lâu (như Đỗ Đức Vân, Dương Chạm Uyên...) và họ trở thành bác sĩ hưởng lương thấp để làm các công việc chuyên môn cao ở các bệnh viện lớn ở Pháp. Dẫu sao, cá nhân họ cũng đạt mục đích “cứu đói” cho gia đình vào những năm kinh tế khủng hoảng. Dần dần từ năm học 1988-1989, đối tượng sang Pháp học được chuyển sang các bác sĩ trẻ hơn (nhưng đã có trường hợp chưa chuẩn bị tốt về ngoại ngữ nên lại bị trả về Việt Nam). Một đơn “tố cáo” tới báo chí với nội dung “trường này chiếm dụng tiêu chuẩn nội trú của bác sĩ trẻ để dành cho bác sĩ quá tuổi” khiến trường rất tốn thì giờ giải quyết việc này. Tiếp đó, khi tiếng Pháp đã được chuẩn bị tốt, hàng năm có một số bác sĩ rất trẻ, đa số là nội trú do trường ta dào tạo, được cử đi làm nội trú 1 năm ở các bệnh viện lớn của Pháp theo thỏa thuận với trường Paris VI (rồi mở rộng sang các trường khác ở Paris).

Đến thời điểm 1990, trên 500 bác sĩ nội trú đã ra trường, phát huy tác dụng tốt, thực sự kế tục sự nghiệp của cha anh. Từ khóa 20, hệ bác sỹ nội trú được "liên thông hóa" với hệ cao học quốc gia trên hai nguyên tắc: thứ nhất thi chung đề thi tuyển sinh và thứ hai sau khi tốt nghiệp bác sỹ nội trú sẽ học thêm một số chứng chỉ của hệ cao học. Để khắc phục những khoá đào tạo bác sỹ nội trú không thi cùng đầu vào với cao học, Bộ GDĐT đã chấp nhận cho các BSNT tốt nghiệp có điểm bảo vệ luận văn từ 8 trở lên, có một bài báo đã đăng thì được chuẩn hoá bằng cách bổ sung các chứng chỉ còn thiếu so với cao học. Nếu điểm luận văn dưới 8 sẽ phải trình bày lại trước hội đồng và sau đó mới được chuẩn hoá.Đến nay, sự liên thông đã mở rộng cho mọi khoá nội trú. Khi những khoá bác sỹ nội trú đàu tiên lên nhận bằng thạc sĩ thì không ít người đầu đã điểm bạc.

Bác sĩ trợ lý giảng dạy và bác sĩ nghiên cứu khoa học cũng là một loại hình đào tạo tương đương với nội trú nhưng học chuyên khoa các môn học cơ sở. Đến 1990 đã đào tạo được 65 người bổ sung cho các bộ môn có labô ở trường và bệnh viện. Cuối khoá, cả hai loại hình này sau khi thi các môn quy định, còn phải trình bày luận văn tốt nghiệp.

ở trường đại học Y Hà Nội, một thời gian dài có chức danh trợ lý (dưới giảng viên) với tiêu chuẩn quá cao: bác sĩ nội trú khi xếp vào thang bậc giảng dạy chỉ là trợ lý. Sáng kiến đào tạo bác sĩ "trợ lý giảng dạy và nghiên cứu khoa học" cho các bộ môn y học cơ sở (tương đương nội trú) của thầy Nguyễn Trinh Cơ nhằm chấm dứt tình trạng lấy người vào hệ đào tạo và nghiên cứu khoa học chỉ cân cứ vào lý lịch, thành phần; đồng thời phân biệt với cách đào tạo nội trú (dành riêng cho các chuyên khoa lâm sáng). Trước khi có loại hình đào tạo nội trú và trợ lý, còn có hình thức thi làm "bác sĩ Viện-Trường" dành cho các bác sĩ tân khoa muốn được giữ lại trường và các viện nghiên cứu (nếu không thi nổi nội trú). Nhưng từ 1985, bắt đầu có tình trạng nhiều bác sĩ trẻ không còn ham muốn giảng dạy và nghiên cứu khoa học vì họ nhìn thấy đời sống các thầy, cô quá thấp kém. Và từ 1990, khi việc phân phối công tác cho nội trú bắt đầu gặp khó khăn thì hình thức đào tạo này phải ngừng hẳn. Ngay bác sĩ nội trú cũng phải chờ đi làm không lương trong 1 hay 2 năm mới được vào biên chế. Cuối những năm 90, có người phải chở tới 3 năm. Còn một lý do: họ không muốn xa Hà Nội, đồng thời chưa có chính sách khuyến khích họ xa Hà Nội.

Tóm lại, đi trước chủ trương của Bộ GD-ĐT, trường đã mầy mò tìm một số loại hình đào tạo sau đại học phù hợp: chuyên khoa cấp I và II (dành cho bác sĩ thực hành: lâm sàng và cận lâm sàng), nội trú (dành cho mới tốt nghiệp, học lực tốt), “viện trường” (dành cho bác sĩ sẽ làm việc ở bộ môn cơ sở)... Đến nay, định hình lại, còn CK I, II và nội trú đang được tiếp tục đào tạo và năm nào cũng có tuyển nội trú trừ năm 1992.

Việc đào tạo nghiên cứu sinh theo chủ trương của bộ GD-ĐT được Bộ Y Tế hướng dẫn từ 20.5.1978. Người bảo vệ ở trong nước đầu tiên là bác sĩ Ngô Gia Thạch, tại trường Đại học Tổng hợp (Sinh học, 1978), còn bảo vệ đầu tiên ở trường Y Hà Nội là bác sĩ Đào Ngọc Phong (18.11.1980) và bác sĩ Vũ Duy Thịnh (3.12.1980). Tốc độ bảo vệ rất chậm: trong 4 năm đầu chỉ có 19 luận án. Thời kỳ này, tác giả luận án là các bác sĩ lâu năm, đã có sẵn nhiều công trình, được bảo vệ theo chế độ đặc cách. Ví dụ, thầy Lê Thành Uyên có trên 40 công trình, đã trích ra 5 công trình để viết thành luận án, thầy Phan Văn Duyệt khi đã là giáo sư, với trên 90 công trình, và đã đào tạo được nhiều tiến sĩ, nhưng vẫn trích ra khoảng chục công trình để viết luận án cho bản thân.

Những luận án của các thầy lâu năm (đã có quá trình nghiên cứu vài chục năm liên tục) tuy góp phần làm tăng thành tích của trường, nhưng không làm tăng trình độ; vì trình độ các tác giả vẫn không thay đổi so với trước khi bảo vệ luận án.
Tuy nhiên, họ vẫn phải trình luận án vì:
1) Họ chưa có chức danh phó giáo sư; nếu có bằng phó tiến sĩ (nay gọi là tiến sĩ) hy vọng sẽ thuận lợi hơn khi ứng cử chức danh này; nhất là những năm sau đó bắt buộc phải có học vị mới được ứng cử chức danh trên;
2) Để giải quyết kinh tế muốn đi làm chuyên gia giảng dạy ở Algérie, phải có bằng trên đại học.

Trước 1984, làm luận án trong nước là sự gian nan, khổ ải hiếm thấy về mọi mặt; còn trái lại, nếu được ra nước ngoài làm luận án thì được coi như sự đổi đời về kinh tế, tiền đồ, sự nghiệp. Mặt khác, trước 1984, việc xét phong học hàm giáo sư, phó giáo sư chưa đòi hỏi đương sự phải có bằng phó tiến sĩ. Do vậy không mấy người đủ hào hứng và can đảm làm luận án trong nước.

Một điều ngược đời là sau năm 1984, nhiều thầy đã có học hàm giáo sư I hoặc II, đã hướng dẫn thành công nghiên cứu sinh, nhưng bản thân vẫn bị thôi thúc bảo vệ luận án để chuẩn bị xét phong giáo sư II hoặc để đi chuyên gia đào tạo ở châu Phi.

Nhiều người còn nhớ chủ trương của Bộ Y Tế từ năm 1963-1964 (khi Bộ tiếp nhận một số tiến sĩ, phó tiến sĩ từ nước ngoài, thấy khả năng một vài vị không như mong muốn): đã không cho cán bộ trong ngành làm nghiên cứu sinh nữa, mà thay bằng chế độ thực tập sinh khoa học. Việc này kéo dài nhiều năm mới được sửa sai, nhưng nhiều thầy đã bị quá tuổi để hưởng sự sửa sai đó.
Mấy chục luận án đầu tiên bảo vệ trong nước là của các thầy đã lận đận vì không được đi học theo chế độ nghiên cứu sinh; không được hưởng ưu tiên, ưu đãi và không thể trông chờ gì hơn ngoài nỗ lực bản thân.
Việc tăng tốc độ và qui mô đào tạo nghiên cứu sinh trong mấy năm 1992-1996 và cả về sau đã được dự báo từ 1991. Đó là nhờ:
1) Chủ trương từ Bộ Giáo dục - Đào tạo, nguồn kinh phí có tăng hơn trước nhiều (tuy vẫn bất cập);
2) Sự ban hành các tiêu chuẩn học hàm, chức danh khoa học;
3) Sự nỗ lực của trường.
Từ khá lâu, đã bộc lộ nhiều dấu hiệu giảm sút chất lượng các luận án; phần tổng quan khá lan man và dông dài, chưa nêu ra vấn đế đã được nghiên cứu đến đâu, tác giả sẽ làm tiếp cái gì; rất ít đề tài cơ sở (lẽ ra phải ngược lại); kết quả làm ra không mới... Chưa có cơ chế để chọn các thầy có nhận xét giúp ích nhất cho chất lượng luận án được tham gia hội đồng chấm luận án. Chưa khắc phục được xu hướng ban tặng điểm rất cao để uý lạo “công khó nhọc” của tác giả luận án, cũng như sự ca ngợi quá mức kết quả bình thường của luận án.
Sau này, Bộ GD-ĐT đã có một số biện pháp khắc phục, ví dụ thêm người phản biện, chỉ định phản biện kín... Nhưng hiệu quả đến đâu thì vẫn còn nhiều ý kiến rất trái ngược nhau.

Chi viện cho các trường y khác

Từ năm 1968, Bộ Y Tế đã có chủ trường mở nhiều lớp đại học ở các tỉnh, để dần dần chúng sẽ thành các trường đại học ở các địa phương này (Thanh Hóa, Thái Bình, Bắc Thái, Hải Phòng). Cũng có cả ý định mở trường ở vùng giải phóng trong miền Nam. Để chuẩn bị cho việc này, khoá bác sĩ vào trường 1962 khi học lên đến Y5 đã chọn ra khoảng 50-60 người cho học chuyên khoa sơ bộ các môn cơ sở (tức là học 1 năm trước khi tốt nghiệp): Giải Phẫu, Mô Học (khi đó gọi là Tổ Chức Học), Sinh Lý, Hoá Sinh, Sinh Lý Bệnh, Giải Phẫu Bệnh... để thành lập một số bộ môn mới cho các trường đại học sắp mở.

Lớp đại học ở Thanh Hóa năm 1969 mở cho các y sĩ trung cấp học 2 năm để thành bác sĩ. Các thầy dạy cho lớp này không đâu khác mà mời từ trường Y Hà Nội, còn thầy tại chỗ là một số bác sĩ tốt nghiệp năm 1969, chỉ là chuyên khoa sơ bộ - hoàn toàn chưa có vai trò gì ngoài việc đưa đón và nghênh tiếp các thầy từ Hà Nội vào. Tuy nhiên, hạt giống gieo ở Thanh Hoá không mọc nổi thành trường.

Năm học 1968-1969, các phân hiệu Y khoa Miền núi (Bắc Thái) và Thái Bình được mở, trên cơ sở những trường trung cấp cũ và dựa vào các bệnh viện tỉnh ở đó. Lực lượng nòng cốt của các phân hiệu gồm:
1) Các bác sĩ có sẵn ở trường trung cấp cũ (bác sĩ Nguyễn Đăng Thụ, bác sĩ Nguyễn Đình Kim);
2) Một số bác sĩ mới ra trường 1968 hay 1969 vừa nói trên (sẽ phụ trách các bộ môn cơ sở;
3) Các bác sĩ lâm sàng ở bệnh viện tại chỗ (sẽ phụ trách các bộ môn lâm sàng;
4) Các thầy được cử từ trường Hà Nội về (phó tiến sĩ Lê Văn Phước, phó tiến sĩ Trần Lưu, bác sĩ Vi Văn Đô, bác sĩ Nhâm Kim Duyệt...). Với lực lượng thầy như trên và với trang thiết bị trường trung cấp, ngay từ hồi đó nhiều thầy trường Y Hà Nội đã biết trước mình sẽ phải vất vả lâu dài trong chi viện trường bạn. Trong khi đó, Hải Phòng có điều kiện mở phân hiệu hơn cả và được sự quan tâm rất sớm của trường Hà Nội thì lại không mở được.

Gọi "phân hiệu" vì đó là những trường chưa đạt tiêu chuẩn chứ không phải là phân hiệu thật sự của trường Hà Nội. Nói chung, các trường mới mở còn tiếp tục bất cập một thời gian dài về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ giảng do đầu tư thấp. Sự chi viện giảng dạy của trường Hà Nội đối với các phân hiẹu trên còn kéo dài đến 1975, tuy đến năm đó, trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học của các trường bạn vẫn chưa có gì đáng kể.

Ngày 6.9.1979, sau dự định bất thành từ 1962 (định mở trường Y Hải Phòng, hiệu trưởng dự kiến: thầy Nguyễn Trinh Cơ, trưởng phòng giáo vụ: thầy Nguyễn Hữu Hồng...), Bộ Y Tế thành lập cơ sở 2 của Đại học Y Hà Nội tại Hải Phòng, gọi là phân hiệu, do bác sĩ Nguyễn Lung đứng đầu. Hầu hết thầy cô chủ chốt ở phân hiệu này cố nhiên được đào tạo đại học và sau đại học ở trường Y Hà Nội chứ không thể ở đâu khác. Từ 1979, cho đến khi phân hiệu này tách riêng trở thành trường độc lập (năm học 1992-1993), tính ra mất trên dưới 14 năm, trong đó khoảng 10 năm đầu vẫn phải có sự chi viện về giảng dạy từ phia trường đại học Y Hà Nội..

Về hình thức, phân hiệu Y khoa Hải Phòng đúng là một “phân hiệu” của trường Y Hà Nội; thầy Nguyễn Lung có Quyết Định cử làm phó hiệu trưởng của trường Y Hà Nội, đặc trách phân hiệu Hải Phòng của trường này. Nhưng thực chất thì không phải thế. Tuy đôi khi thầy Nguyễn Lung vẫn lên Hà Nội họp “Ban Giám Hiệu” và “Hội đồng chức danh”, nhưng phân hiệu có kinh phí riêng, con dấu riêng, tổ chức riêng (kể cả tổ chức Đảng và các đoàn thể), sự điều hành riêng, trừ việc Trường đại Học Y Hà Nội phải ký bằng tốt nghiệp. Cả hai bên đều muốn chia tay sớm để tránh phiền hà.

Với hai trường Y ở miền Nam

Trước giải phóng, miền Nam có 2 trường Y (Dược): một ở Sài Gòn và một ở Huế (không kể một trường tư, rất èo uột, là trường Minh Đức). Trường Huế ngay từ trước 1975 đã rất nhỏ, thiếu thầy, phải thường xuyên mời từ Sài Gòn và từ nước ngoài tới dạy. Sau ngày 30.4.1975, nhiều người đã bỏ đi, ở Huế chỉ còn chưa đầy 10 thầy (Lê Văn Bách, Lê Bá Nhàn, Lê Bá Vận...). Sự chi viện cho trường Y Huế bắt đầu từ 1976, dưới hình thức liên tục nhiều năm trường Hà Nội cử cán bộ vào giảng hầu hết các môn, nhất là những môn mới (Sinh Lý Bệnh, Đông Y, Sinh Học,...), đồng thời, nhiều thầy vững vàng của trường Hà Nội đã chuyển hẳn công tác vào Huế, đảm nhiệm những chức vụ chủ chốt về chuyên môn và quản lý (Nguyễn Cước, Võ Phụng, Phạm Khắc Lâm, Văn Học Tấn, Nguyễn Văn Thái, Trần Quang Phần,...). Sau đó, trường ta đào tạo cho trường Huế nhiều bác sĩ chuyên khoa cấp I, cấp II và nghiên cứu sinh.

Với khoa Y của trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cũng tương tự. Sự chi viện gồm cử thầy vào giảng, san sẻ cán bộ, thảo luận chương trình...

Theo báo cáo của nhóm tiếp quản trường này thì trước giải phóng, khoa Y ở đây có 20 giáo sư thực thụ, nay chỉ còn 7 và sau đó còn giảm tiếp (các ông Bùi Minh Tâm, Võ Quí Đài... bỏ ra nước ngoài), giáo sư kết hợp có 23, sau giải phóng còn 13, giảng viên từ 32 còn 9... Trước năm 1975, số giáo sư và giảng viên nói trên vẫn đào tạo 200-250 sinh viên và tốt nghiệp hàng năm (1970-1974) khoảng 150-200. Trường có đào tạo nội trú và "hậu đại học": năm 1970 tuyển 123 nhưng mới tốt nghiệp 23.

Với sự chi viện giảng dạy của trường Hà Nội, trường thành phố Hồ Chí Minh không giảm số tuyển sinh, còn mở thêm hệ chuyên tu. Bộ môn Sinh Lý Bệnh đã vào giảng liên tiếp nhiều năm (từ 1977-1982) cho cả sinh viên Y3 và Y6 chuyên khoa sơ bộ. Nhiều thầy trường ta chuyển hẳn công tác vào đây trở thành lực lượng quan trọng hàng đầu trong quản lý và chuyên môn (Võ Thế Quang, Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Quang Quyền, Ngô Bảo Khang, Đoàn Trọng Hậu, Trương Đình Kiệt, Đỗ Đình Hồ...).

Khoa Y trường Tây Nguyên cũng nhận được sự chi viện ban đầu rất quí giá: trường Y Hà Nội đã cử trưởng khoa, phó khoa và một số cán bộ giảng dạy chất lượng cao làm việc thường trực với thời hạn 1 năm, đồng thời cử nhiều thầy khác vào dạy ngắn hạn toàn bộ giáo trình từng môn. Những năm đầu, số giờ giảng của các thầy từ Hà Nội chiếm 70-90% tổng số giờ. Những năm 1990, nhiều thầy trẻ của khoa Y trường Tây Nguyên được đào tạo chuyên khoa cấp I và nghiên cứu sinh ở Hà Nội.

Với khoa Y trường đại học Cần Thơ, trường cũng cử nhiều thầy vào công tác 1 năm hoặc chi viện giảng dạy ngắn hạn; đồng thời mời các thầy ở Cần Thơ dự những lớp đào tạo lại, đào tạo chuyên khoa cấp I và làm nghiên cứu sinh ở trường Hà Nội.

Với những công việc trên, trường Đại học Y Hà Nội xứng đáng là trường trọng điểm, đầu đàn, đã trực tiếp và chủ yếu giúp hai trường miền Nam hồi sinh, giúp hình thành và củng cố, phát triển hai trường khác.

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1975-1990

Phòng Xét nghiệm (labo) Trung tâm

Đầu tiên labo trung tâm được thành lập theo sáng kiến của bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ từ những năm 1966-1967, xuất phát từ quan điểm cần tập trung các trang thiết bị quí, hiếm để sử dụng chung cho các đề tài nghiên cứu lớn vì trường không đủ tiền mua sắm chúng cho từng bộ môn.

Tuy vậy, phòng này hoạt động rời rạc, ít hiệu quả, vì thực tế những trang thiết bị được gọi là “hiện đại” nhưng vẫn rất nghèo nàn, thiếu đồng bộ thậm chí chỉ là những thiết bị thông thường; thêm nữa, cơ chế hoạt động của phòng không rõ ràng, người điều hành chưa đủ năng lực và tầm nhìn. Do vậy nó không làm được nhiệm vụ như mọi người mong muốn.
Về sau, phòng được tổ chức lại, thay đổi nhân sự và chia thành các tổ, gồm tổ Tế bào, tổ Hiển vi điện tử, tổ Thăm dò chức năng, và tổ Phóng xạ,... Sở dĩ có 4 tổ này vì trong trường khi đó có 4 thầy nghiên cứu theo hướng đó, được Đảng uỷ và Ban Giám hiệu coi là những hướng có triển vọng. Rốt cuộc, chỉ có tổ Phóng xạ phát triển thành đơn vị bộ môn, tách ra độc lập với phòng, các tổ còn lại đều giải thể vào khoảng đầu thập kỷ 1970 mà không đem lại kết quả thật sự nào.

Bẵng đi 15 năm, đến tận 1986, giáo sư Hoàng Đình Cầu, hiệu trưởng, lại ký quyết định tái lập một đơn vị tương tự, nhưng có qui chế hoạt động khá rõ ràng, phù hợp; với các nhiệm vụ sau:

1) Phục vụ các đề tài lớn, đề tài nghiên cứu sinh, kể cả đề tài ở ngoài trường;
2) Lấy kinh phí các đề tài để duy trì và phát triển phòng, mua thêm trang thiết bị.

Nhưng trang thiết bị ban đầu vẫn quá nghèo nàn, cọc cạch, các đề tài chỉ được cấp rất ít kinh phí, chỉ muốn dựa vào trang thiết bị ở bộ môn để hoàn thành mà không thể san sẻ kinh phí cho phòng này. Cuộc sống các thầy, cô quá thấp kém, đồng tiền mất giá với tốc độ phi mã, không thể mua sắm máy móc gì thêm, nên kết quả tất yếu là phòng phải giải thể. Trang thiết bị chưa sử dụng hết tuổi thọ đã trở nên lạc hậu, được đem phân chia nhưng ít bộ môn nào muốn nhận. Do vậy, nhiều thứ phải thanh lý.

Phương hướng phát triển các kỹ thuật hiện đại đã được đề ra khá sớm với ưu tiên về kinh phí, đầu tư, nhưng thực tế vẫn rất hạn hẹp vì lúc đó đang là thời chiến, tiếp sau lại là giai đoạn khủng hoảng của đất nước.

Một số kỹ thuật mới được hoàn chỉnh (Miễn dịch, Hóa sinh,...), nhưng còn khoảng cách khá xa với thế giới; tuy nhiên vẫn chưa quan trọng bằng khoảng cách này ngày một doãng rộng hơn; còn các kỹ thuật khác như Sinh học phân tử... tuy được một vài thầy cô nói rất nhiều nhưng kết quả lại quá khiêm tốn.

Trong hoàn cảnh đất nước nghèo đói, lại thêm bị bao vây, phong tỏa, thì Sinh học phân tử (do một thầy Sinh Lý học để ra và theo đuổi, thậm chí muốn hướng cả bộ môn cùng làm) về sau được đánh giá là “viển vông”. Một vài cải tiến khắc phục khó khăn xứng đáng được đánh giá tốt và được khen thưởng, ví dụ sản xuất kháng thể cho xét nghiệm và cho chẩn đoán, tạo ra bộ sinh phẩm (KIT) đơn giản, dùng vật liệu sẵn có để thay thế vài thứ vật liệu phải nhập từ nước ngoài... Tuy nhiên, đây chỉ là những sáng kiến khắc phục khó khăn hơn là những công trình. Sản phẩm ngay lúc làm ra tuy rất lạc hậu so với thế giới, nhưng trong hoàn cảnh dất nước bị bao vây cấm vận, những thành phẩm này đã có những đóng góp nhất định.

Toàn trường chưa thấy đề tài nào có tính tập trung và phát triển theo chiều sâu, trong đó tác giả cặm cụi đào sâu và phát triển vấn đề. Tuy vậy, hàng năm trường vẫn có các hội nghị khoa học, đề tài đa dạng, phản ánh tình trạng đa ngành; nhưng cũng rất phân tán, tản mạn; từng đề tài khó phát triển độc lập. Ví dụ, năm 1980, một hội nghị với 121 đề tài (làm trong 3 năm 1977-1980); năm 1985, hội nghị toàn trường có 128 đề tài; năm 1988: 90 đề tài; năm 1990: 100 đề tài và năm 1992 (nhân kỷ niệm 90 năm thành lập trường) có khoảng 200 đề tài ở hội nghị toàn trường và 8 hội nghị chuyên ngành.

Sáng kiến, cải tiến

Theo phong trào “sáng kiến, cải tiến” của công nhân, có một số lần nhà trường cũng tổng kết khen thưởng sáng kiến cải tiến vào các năm 1977, 1980, 1985. Một trong những sáng kiến được khen ở cấp Bộ (cấp cao nhất) ngày 27-9-1977 là sản xuất kháng huyết thanh đơn hiệu chống alpha-FP để chẩn đoán ung thư gan, dưới đó là sáng kiến sản xuất IgG và kháng thể chống IgG. Thực chất đây là những khắc phục khó khăn để tạo ra một chế phẩm sinh học theo một quy trình đã được sách báo mô tả. Tác dụng thực sự của nó là để sử dụng trong hoàn cảnh đất nước bị bao vây và quá nghèo nàn. Từ hướng này, Bộ Y tế cho thành lập Đơn vị sản xuất chế phẩm sinh học đặt ở Bộ môn Sinh Lý Bệnh, nhưng thực tế hầu như không có biên chế và trang thiết bị phù hợp.

TỔ CHỨC - NHÂN SỰ GIAI ĐOẠN 1975-1986

Vài sự kiện

1) Một số đơn vị mới thành lập, nhằm phù hợp với sự phát triển của khoa học. Tổ Phóng xạ Y học (31.5.1973) phát triển mạnh vào những năm sau 1975, trở thành bộ môn và thành khoa của bệnh viện với công sức của bác sĩ Phan Văn Duyệt, kể cả việc đào tạo cán bộ chuyên ngành cho cả nước. Đơn vị Nghiên cứu sản xuất chế phẩm miễn dịch có được khoảng một chục chế phẩm thế hệ cũ (thế hệ 1970). Bộ môn Hồi Sức Cấp Cứu Nội Khoa được thành lập (21.10.1983) tách ra từ bộ môn Nội, hoạt động có hiệu quả trong nghiên cứu, đào tạo và kết hợp phục vụ thực tiễn với bệnh khoa thuộc bệnh viện Bạch Mai và vươn lên giữ vai trò đầu ngành. Năm 1984 thành lập các bộ môn Dị ứng, Ung Thư. Trung Tâm Nghiên Cứu Chất Lượng Đào Tạo (31.5.1988) trực thuộc hiệu trưởng và ngày 23.4.1990 chuyển lên Bộ Y Tế, đổi tên là Trung Tâm Nhân Lực). Bộ môn Y Học Quân Sự chủ huấn luyện bước đầu quân sự cho sinh viên Y1, và chiến thuật quân y cho Y6. Ngày 11-11-1989 thành lập Viện Tim Mạch ( GS. Phạm Gia Khải là phó nay là Viện trưởng Viện Tim mạch, Viện phó là PTS Nguyễn Lân Việt) và Viện Y học lâm sàng nhiệt đới (GS Phạm Song và sau là GS. Lê Đăng Hà) đều do cán bộ truờng tham gia lãnh đạo

2) Ngày 25.7.1988, trường Cao đẳng Y tế Nam Định sáp nhập vào trường Đại học Y Thái Bình, sau đó có dự định nâng cấp thành một khoa đào tạo cử nhân điều dưỡng, nằm trong Học viện Y Dược tương lai (năm 1995 đã tuyển sinh khóa 1 hệ cao đẳng tại chức do trường ta tổ chức). Ngày 28.11.1988 hợp nhất hai bộ môn Hóa và Hóa sinh nhưng chưa suôn sẻ vì có xu hướng đưa Hóa trở lại giai đoạn I đào tạo đại học. Cùng ngày 28.11.1988 ra đời bộ môn Phục Hồi Chức Năng.

Về nhân sự

1) Giáo sư Nguyễn Trinh Cơ làm hiệu phó tới 1976 thì được bổ nhiệm hiệu trưởng (thay giáo sư Hồ Đắc Di). Giúp ông có các hiệu phó Trương Văn Hợi và Đỗ Nguyễn Phương, sau thêm bác sĩ Hoàng Hữu Đốc (ba ông này trước đó phụ trách các phòng Giáo vụ và Tuyên Huấn). Sau còn bổ sung thêm tiến sĩ Nguyễn Năng An và bác sĩ Nguyễn Thụ (thay ông Phương chuyển công tác khác).

2) Khi giáo sư Nguyễn Trinh Cơ nghỉ (1983), tiến sĩ Nguyễn Nâng An lên thay. Chỉ sau hơn một năm (đến 1.4.1985), ông thôi chức, Bộ Y Tế cử thứ trưởng Hoàng Đình Cầu tạm giữ chức hiệu trưởng; cho đến ngày 30.9.1989 thì phó giáo sư Nguyễn Thụ thay, sau một cuộc bỏ phiếu của cán bộ, viên chức

3) Các trưởng, phó phòng cũng có sự thay đổi. Khoa Sau đại học do giáo sư Nguyễn Năng An thành lập và phụ trách, cấp phó là phó giáo sư Lê Đăng Hà, rồi phó giáo sư Đào Văn Chinh, rồi phó giáo sư Lê Nam Trà,. Trưởng phòng Giáo vụ lần lượt là các bác sĩ Trương Văn Hợi, Hoàng Hữu Đốc, rồi Nguyễn Khắc Liêu, Phạm Văn Thân, Đào Văn Phan. Trưởng phòng Tổ chức cán bộ cũng lần lượt là các bác sĩ Nguyễn Đình Thiện, Nguyễn Thế Hùng, Lê Thị Oanh. Phòng Nghiên cứu khoa học là các phó tiến sĩ Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Văn Dịp.

4) Về hàng ngũ phụ trách bộ môn, trước đây do hết hi vọng chờ đợi các đợt phong học hàm, trường ta đã phải đề nghị Bộ Y Tế bổ nhiệm một loạt phó chủ nhiệm cho những bộ môn chưa chính thức có chủ nhiệm. Đó là vào thời kỳ chuẩn bị chống chiến tranh phá hoại: Vũ Triệu An, Phạm Phan Địch,... và một số chủ nhiệm. Năm 1975 và 1976, một số phó chủ nhiệm nữa được Bộ Y Tế chỉ định (10.12.1975), chủ yếu là ở những bộ môn mà chủ nhiệm suy giảm sức khỏe, bận nhiều công tác ngoài trường, hoặc không phải đảng viên. Đợt này, các phó chủ nhiệm bộ môn là các bác sĩ Phạm Khuê (Nội), Lê Kinh Duệ (Da Liễu), Chu Văn Tường (Nhi). Một số phó chủ nhiệm được đề bạt chủ nhiệm: Đào Xuân Trà, Vũ Triệu An, Phạm Phan Địch. Ngày 10.2.1977 lại bổ nhiệm một loạt phó chủ nhiệm khác (ra trường 1960-1962): Đỗ Trọng Hiếu, Hà Huy Khôi, Vũ Anh Vinh, Ngô Thế Phương, Nguyễn Hữu Chấn, Nguyễn Ngọc Lanh...

Một bộ môn với một vài chục cán bộ khoa học lại có cả phó chủ nhiệm là điều không gặp ở những nước có truyền thống đại học lâu đời. ở các nước đó, mỗi bộ môn chỉ cần một người phụ trách được chọn bằng cách thi tuyển Những bộ môn mà người lãnh đạo có đề tài lớn sẽ được phát triển thành viện và viện vẫn nằm trong trường. Do vậy, người lãnh dạo bộ môn tự thấy không cần kiêm nhiệm những chức vụ hành chính khác vì mất thì giờ dành cho nghiên cứu, chỉ cần toàn tâm toàn ý làm việc ở bộ môn cũng vẫn thành đạt lớn (ở các nước, có thể được giải Nobel; ở Việt Nam, giáo sư Tùng có công trình cắt gan không phải ở cương vị thứ trưởng hay giám đốc bệnh viện Việt-Đức, mà là chủ nhiệm bộ môn).
Tuy nhiên, ở trường đại học Y Hà Nội, dần dần do một số chủ nhiệm do tuổi cao hoặc do hoạt động ngoài trường là chính nên thực tế không còn quản lý bộ môn nữa. Vì vậy, phó chủ nhiệm hồi đó phải thực hiện theo văn bản qui định nhiệm vụ là : tổ chức thi đua, tổ chức đời sống và giáo dục chính trị cho nhân viên trong bộ môn.. Có bộ môn chưa tới 20 viên chức mà tới 4 phó chủ nhiệm. Danh hiệu thi đua ngày càng bộc lộ tính hình thức, nhưng không ít người vẫn cố tìm cách đạt được để được sớm được nâng bậc lương.

5) Việc phong học hàm chính thức được tiến hành năm 1980. Ngày 29.4 năm đó, các vị cao tuổi của trường được danh hiệu giáo sư: đó là các thầy Nguyễn Tấn Gi Trọng, Hoàng Đình Cầu, Phạm Khắc Quảng,... rồi đến các thầy Phạm Khuê, Vũ Triệu An, Đỗ Dương Thái. Phó giáo sư có các thầy, cô Trần Thị Ân, Lê Kinh Duệ, Nguyễn Bửu Triều, Chu Văn Tường, Trịnh Bỉnh Di, Lê Vỹ Hùng, Lê Quang Cát, Đỗ Doãn Đại. Ngày 25.8.1984 đợt phong cả nước với rất nhiều thầy cô trường ta đăng ký. Có nhiều thầy, cô từ phó giáo sư được lên giáo sư: Trần Thị Ân, Lê Kinh Duệ, Nguyễn Bửu Triều, Chu Văn Tường... Tiến sĩ Nguyễn Nâng An, hiệu trưởng, được học hàm giáo sư mà không qua phó giáo sư. Lần này, số phó giáo sư của trường lên tới trên 40 người, chủ yếu là các khóa ra trường từ 1960-1962, đã từng là lực lượng chủ chốt trong thời gian kháng chiến chống Mỹ. Người trẻ nhất là phó giáo sư Đỗ Trung Phấn, ra trường cuối 1965.

Bẵng đi 7-8 năm, đợt phong học hàm sau đó (1991-1992), trường ta là trường có tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư vào loại cao nhất cả nước so với số biên chế thầy, cô: thêm được 21 giáo sư và 36 phó giáo sư, có hai phó giáo sư trẻ nhất ra trường 1969 và 1970. Sau đó, trường công nhận 93 giảng viên chính và 110 giảng viên (kể cả giảng viên kiêm nhiệm).

Thời điểm này, lực lượng trẻ của trường được bổ sung rất chậm, tuổi trung bình tăng nhanh từng năm. Đã có nhiều ý kiến lên tiếng cảnh báo, kể cả trong tờ nội san Tiếng nói đại học Y Hà Nội (số ra năm 1985). Giảng viên chính có cùng thang lương như phó giáo sư nên một số thầy, cô thấy không cần phấn đấu thành phó giáo sư. Có nhiều trường hợp phó giáo sư tuy ra trường miuộn hơn, được chức danh chậm hơn, nhưng vẫn được xếp lương ở trên giáo sư, chủ yếu vì đã có giai đoạn làm quản lý. Điều đáng chú ý là giáo sư ngành Y có tuổi khá cao, trung bình đã 57-60 tuổi, vì vậy giáo sư chỉ làm việc vài năm là đến tuổi hưu theo qui định.

CÁC SỰ KIỆN ĐÁNG CHÚ Ý TRONG THỜI KỲ 1975:

Sự ra đi của các thế hệ tiền bối.

Trong thời kỳ này, nhiều vị đã quá cố. Không kể thầy Hoàng Tích Trí mất từ lâu, thầy Đặng Văn Ngữ hi sinh năm 1967, thầy Đặng Vũ Hỷ mất trước 1975 và trường đại học Y Hà Nội còn mất thêm: thầy Nguyễn Xuân Nguyên, bác sĩ đầu tiên được đào tạo trong nước, có công xây dựng ngành Nhãn khoa và lãnh đạo tiêu diệt bệnh mắt hột (mất 1.10.1975); giáo sư Hồ Đắc Di, người có công hồi sinh trường ta, linh hồn và ngọn cờ trong giai đoạn chống Pháp (mất 25.6.1984); thầy Tôn Thất Tùng, ngọn cờ và trụ cột trong giai đoạn chống Pháp, người kiến tạo ngành Ngoại khoa và Ngoại khoa dã chiến, danh nhân Y học nước nhà (mất 7.5.1982); thầy Trần Hữu Tước, phó giáo sư từ Pháp về nước, có công xây dựng ngành Tai Mũi Họng Việt Nam, (mất 18.10.1983); thầy Nguyễn Trinh Cơ, người đã lân lộn suốt 30 năm với trường, có công lớn trong việc xây dựng bộ môn Ngoại và hệ đào tạo sau đại học (mất 28.3.1985); thầy Đỗ Xuân Hợp, đầu ngành Giải phẫu, có công đầu trong sử dụng tiếng Việt trong giảng dạy đại học (mất 17.12.1985); thầy Trương Cam Cống, dạy ở trường từ 1932, chủ nhiệm bộ môn Y Pháp-Mô-Phôi, về hưu rồi mất năm 1986; thầy Đỗ Dương Thái, sinh viên vào trường 1947, giáo sư năm 1980, chủ nhiệm bộ môn Ký sinh trùng học (mất 6.11.1986); thầy Nguyễn Ngọc Doãn, chủ nhiệm bộ môn Dược Lý học (mất 1987); thầy Vũ Công Hòe, chủ nhiệm bộ môn, đầu ngành Giải phẫu bệnh học (mất 28.12.1993).

Đổi tên trường:

Khi trường Đại học Y Dược tách làm 2, trường ta mang tên Trường Đại học Y khoa (không kèm chữ Hà Nội; vì khi đó, cả miền Bắc chỉ có một trường Đại học Y và một Đại học Dược). Từ năm 1971, khi các phân hiệu Đại học Y Thái Bình và Miền Núi chính thức trở thành Trường đại học, tên trường ta vẫn như cũ, kể cả sau khi thống nhất đất nước: lúc này cả nước có 5, rồi có 7 đại học Y. Mãi tới 1985, bằng quyết định ngày 11 tháng 9 của Bộ Y Tế, trường ta đổi tên thành Trường Đại học Y Hà Nội.

Viện Giải phẫu trở về trường: đây là địa điểm mang nặng tính lịch sử, vì toàn thể các nhà ngoại khoa, các nhà y học kỳ cựu của ta đều đã học và được đào tạo ở đây, kể từ thầy Tôn Thất Tùng. Thầy Đỗ Xuân Hợp đã là chủ nhiệm công trình thời trường Đông Dương (Chef de Travaux, một chức vụ ngay dưới Viện trưởng) rồi suốt đời gắn bó với Viện này của trường, kể cả khi viện đã bị giải thể. Năm 1980, Bộ Y Tế quyết định giao một phần đất, rồi 1984 giao cả tòa nhà của Viện Giải Phẫu cho Viện Dinh Dưỡng. Việc chuyển giao này bị dư luận phản đối nhưng cũng phải đến mãi 1987 trường ta mới lấy lại được tòa nhà cổ. Ngày 27.12.1980, bộ trưởng Vũ Văn Cẩn quyết định trường ta phải bàn giao khu đất 1425 m2 cho Viện Dinh Dưỡng, sau đó, Viện này xin mượn 3 phòng của Viện Giải Phẫu (17.1.1981); ngày 15.11.1984 (lúc này giáo sư Nguyễn Trinh Cơ đã thôi hiệu trưởng) thứ trưởng Nguyễn Văn Đàn, sau khi tham khảo ý kiến của trường nhiều lần, đã ký công Văn số 6259, đồng ý với lãnh đạo Viện Dinh Dưỡng, giao toàn bộ tòa nhà Viện Giải Phẫu cho Viện Dinh Dưỡng. Việc chuyển giao này bị sự phản đối của dư luận trong và ngoài trường, trước hết là của các thầy bộ môn Giải Phẫu, trong đó kiên trì và dũng cảm nhất là giáo sư Trịnh Văn Minh. Viện Dinh Dưỡng, sau cùng đã bỏ ý định lấy nốt tòa nhà cổ ở Viện Giải Phẫu, lúc này, giáo sư Nguyễn Thụ là hiệu trưởng.

Giai đoạn từ năm 1986 đến nay

Đây là giai đoạn trường đại học Y Hà Nội có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, sự khởi sắc thật sự chỉ xuất hiện từ 1990, vì hậu quả của giai đoạn trước vẫn chưa thể khắc phục ngay (kể cả trong phạm vi cả nước), thậm chí còn nặng lên trong những năm 1986-1989.

Năm 1986 được đánh dấu bằng Đại Hội VI của Đảng với các nghị quyết về đổi mới. Và muốn đổi mới thực tiễn, trước hết phải đổi mới tư duy.Sau Đại Hội, ai cũng nói “đổi mới tư duy” và “công khai hoá”, nhưng mỗi người tiếp nhận nó với tâm trạng khác nhau. Những người bức xúc do nếp tư duy cũ làm họ nghẹt thở thì nay như được giải phóng; mặc dù xưa kia họ hay nói năng và có thái độ như người “bất mãn”. Còn ở thái cực khác những người tiêm nhiễm quá lâu các lý thuyết giáo điều thì ngỡ ngàng, bứt rứt, thậm chí đau khổ; mặc dù trước kia họ nói năng và hành xử rất “phải phép”. Đứng trước hiện tượng các hợp tác xã nông nghiệp tan rã hàng loạt có thầy cô mừng rỡ vì chủ trương khoán sản phẩm tới hộ gia đình sẽ chấm dứt nạn thiếu đói triền miên và sẽ còn có thừa gạo để xuất khẩu; nhưng cũng nhiều thầy cô lo lắng vì công sức xây dựng chúng suốt 30 năm, nay bỗng nhiên bị phá vỡ.

Tờ báo nội bộ Tiếng nói Đại học Y Hà Nội ra đời được cũng là nhờ chủ trương đổi mới; mặc dù có nhiều khó khăn. Nay đọc lại, khá nhiều bài đã phản ánh những suy nghĩ từ hai tâm trạng trái ngược nhau như đã nói trên. Ví dụ, khi có thông báo từ nay “không cần là đoàn viên TNCS cũng được thi đại học”, có thầy cô rất vui mừng vì thấy rằng:
1) Bố mẹ không cần chạy chọt để con cái được vào Đoàn trong khi chính chúng không quan tâm;
2) Trường đại học dưới chế độ ta là của toàn dân, không phải của riêng Đoàn thanh niên;
3) Đoàn phải tuyên truyền để thanh niên giác ngộ mà vào Đoàn, chứ không được dùng “độc quyền vào đại học” để bắt người ta vào Đoàn. Nhưng cũng nhiều thầy cô rất lo lắng: thế này thì sinh viên sẽ rất hư hỏng, nếu 100% số sinh viên không phải là “những người cộng sản trẻ tuổi”. Đó chỉ là những tâm tư đang còn bỡ ngỡ khi bước vào nền kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, tư duy đổi mới không có nghĩa là thực tiễn được cải thiện ngay. Năm 1986, kinh phí của trường và thu nhập của các thầy cô vẫn rất hạn hẹp. Quán tính của giai đoạn khó khăn còn kéo dài vài năm sau

Năm đầu Đổi Mới (1986), việc sản xuất thuốc Philatốp để cải thiện vẫn hết sức quan trọng đối với toàn trường. Công của ông Trần Văn Luận và cử nhân Trương Xuân Ngọc là rất lớn. Xưởng của họ làm ra số tiền tương đương 1/3 kinh phí. Khi đến lượt đi làm lao công kiếm chút tiền ở xưởng của hai ông này thì giáo sư cũng không nhường cho ai, sự quan tâm ngày đó của cán bộ công nhân viên là xem được ban giám hiệu chia cho bao nhiêu tiền... Dự báo cho năm 1987, ông Hoàng Hữu Đốc nói ở Hội nghị công nhân viên chức năm 1986: “không có gì lạc quan”.

Ba năm đầu sau giai đoạn khó khăn 1987-1990

Như trên đã nói, đó là ba năm tích cực thực hiện cải cách giáo dục. Đảng bộ, Ban giám hiệu, cũng như toàn thể thầy cô và nhân viên có những nỗ lực hết sức to lớn. Công sức bỏ ra phải đặt trong hoàn cảnh đời sống cực kỳ nghiệt ngã lúc ấy mới thấy rõ. Tuy nhiên, đây vẫn chủ yếu là sức người, gồm cơ bắp và trí óc, mà không có sự hỗ trợ không thể thiếu của vật tư, trang thiết bị và tiền của, do vậy hiệu quả đưa lại rất hạn chế.

Năm 1987, tức một năm sau khi đã có Nghị Quyết VI, hình kinh phí không cải thiện gì hơn. Năm đó (với 912 cán bộ, 2130 sinh viên), ban giám hiệu đưa ra bản quyết toán như sau. Tính ra tiền, kinh phí được cấp đã gấp 3,5 lần năm trước. Không phải là sự tăng ngân sách mà là do đồng tiền mất giá quá nhanh. Cụ thể: Được cấp 57.108.000 đ (so với 16.758.600 đ của 1986), dành chi cho lương, học bổng, sinh hoạt phí 35.627.790 đ (62,4%). Kinh phí đào tạo và NCKH thấp hơn năm trước (3.475.389 đ), tức là chỉ có 6,08%, so với 9% của năm trước.

Trong tình hình ngặt nghèo như vậy, ngoài các việc liên quan đến cải cách giáo dục, trường vẫn cố gắng làm một số việc liên quan tới đào tạo miễn là không tốn nhiều kinh phí lắm. Chẳng hạn, đã tiến hành đợt công nhận đặc cách CK I và CK II cho hàng trăm bác sĩ đủ tiêu chuẩn.

Theo lịch như sau: 17-4 đến 25-4-1987: phụ đạo chuyên môn; 26-4 kiểm tra chuyên môn để vào lớp; 18-5 đến 13-6: học tại bộ môn; 22-6-1987: thi chuyên môn (lý thuyết). Như vậy, sau hơn hai tháng, đất nước có thêm hàng trăm bác sĩ đủ niên hạn được công nhận chuyên khoa cấp I và II.

Từ ngày 10 đến 15-2-1988 có đợt thi tuyển bác sĩ chuyên khoa cấp II học tập trung. Có 61 đơn xin học, sẽ lấy vào 20 người. Môn lâm sàng, thí sinh phải thi cả lý thuyết và thực hành; môn cơ sở chỉ phải thi lý thuyết (Sinh Lý Bệnh đối với hệ Nội và Giải Phẫu đối với hệ Ngoại).

Lớp này, cả người học và người dạy đều khá vất vả. Các thầy có kinh nghiệm nhất phải kèm cặp từng nhóm, học viên tự đọc tài liệu là chính, tất cả các buổi sáng phải ở buồng bệnh, luôn luôn được thầy “truy hỏi” và giảng giải cho. Khi thi tốt nghiệp ngoài các môn quy định còn phải trình một luận văn. Nói chung, từ khâu tuyển chọn cũng như trong quá trình đào tạo, trường luôn luôn chú ý đúng mức đối với đối tượng này.

7-4-87: Họp về chất lượng thực hành của sinh viên

Rất nhiều thầy đã phát biểu. Ví dụ, phải coi khả năng vận dụng lý thuyết vào công tác thực tiễn của bác sĩ cộng đồng cũng là thực hành;

Từ bản ghi chép còn lại, với các ý kiến của các thầy cô (Lê Thị Oanh, Nguyễn Khắc Liêu, Nguyễn Khánh Trạch, Vũ Xuân Uông, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Ngọc Lanh, Dương Chạm Uyên, Vương Hùng, Nguyễn Thấu)... cho thấy trường có thể làm gì để khắc phục những bất cập. Tuy nhiên, khi đề xuất phải có thực địa tốt ở cộng đồng cho hàng ngàn sinh viên thực tập dài hạn, bao gồm cả việc nuôi sống họ (lúc đó chưa bỏ chế độ bao cấp) thì ai cũng thấy khó khăn rất lớn. Thực tế là khoá vào trường 1985 và 1986 (ra trường 1991 và 1992) không có một dịp nào được thực tập ở cộng đồng. Có người nói, nếu trường có thực địa cũng lãng phí, vì hầu như cả hai khoá này ra trường không về công tác ở cơ sở. Nhiều năm sau Bộ Y Tế mới nói đến việc đưa bác sĩ về xã. Chỉ từ năm 1994, với sự hỗ trợ của dự án Subakawa trường ta mới xây dựng được thực địa tại cộng đồng ở Huyện Kim Bảng cho sinh viên năm thứ ba và năm thứ năm làm nơi thực tập. Sau đó, còn phát triển ở Sóc Sơn và Chợ Đồn.

29-4-87: Công đoàn triệu tập về triển khai giảng dạy theo mục tiêu và dạy bằng mođun. Đến thời điểm đó, đa số thầy cô đã được học lớp sư phạm, nhưng tại hội nghị này, kết quả học tập được nhận định là “mới chỉ ở mức gây hứng thú”, được mọi người cho là “rất nên thực thi, nếu có điều kiện”.

Ngày 21-10-1987, hiệu trưởng triệu tập hội nghị gồm các ban chủ nhiệm và giáo vụ bộ môn, bí thư chi bộ để nghe và thảo luận kế hoạch năm học mới (1987-1988). Vẫn chỉ có hai vấn đề nổi: Cải cách giáo dục và cải thiện đời sống. Cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện cải cách giáo dục, vì trường đã bắt đầu việc này được gần 3 năm nay. Mục tiêu bác sĩ chăm sóc sức khoẻ ban đầu được nói chi tiết và cụ thể hơn, do vậy nhận thức có tăng rõ rệt.

Để các thầy đừng tiếc mà nhồi nhét quá nhiều lý thuyết (như thực tế đang xảy ra lúc đó), ngoài việc nhấn mạnh “đây là bác sĩ đa khoa thực hành”, công tác ở tuyến phổ cập chứ không phải ở tuyến cao hơn, thầy hiệu trưởng lần đầu tiên đã dùng cụm từ “miệng nói, tay làm” (để chỉ ra sự gắn lý thuyết với thực hành mà bác sĩ cộng đồng phải có). Để nói về sự gần gũi dân, ông còn dùng cụm từ “bác sĩ gia đình kiểu mới” để chỉ công việc hàng ngày của bác sĩ chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Các nội dung trên còn được giáo sư hiệu trưởng phát biểu trước đại hội Đảng bộ (ngày 29-10-1988 (với tư cách khách mời) và trong nhiều dịp khác nữa. Phải khẳng định, tác giả đề án cải cách đã đầu tư rất nhiều suy nghĩ, tâm huyết và công sức. Nhưng khi nghe đến báo cáo về kinh phí, ai cũng thấy sẽ gặp vô số khó khăn mà trường phải vượt qua khi thực hiện đề án cải cách giáo dục này, có điều lúc đó có lẽ không ai hình dung nổi các khó khăn lớn đến mức không thể khắc phục.
Chủ trương mở rộng sản xuất thuốc Philatốp (về tận bộ môn) cũng được quan tâm không kém. Khi ấy, có 4 đơn vị được phép (coi như “chân rết của xưởng trung ương” của ông Luận). Sơ kết ngày 26-9-87, việc sản xuất thuốc Philatốp ở bộ môn Sinh Lý Bệnh như sau: đã làm 10 mẻ, bình quân ngày công là 308 đồng. Đến 5-10-87, làm thêm 7 mẻ, giá ngày công tăng lên 650đ (phần nhỏ do tăng năng suất, cải tiến, còn phần lớn do đồng tiền mất giá).
Ngày nay, nhiều người không hiểu thuốc Philatốp là gì. Đó là tên một nhà khoa học Liên Xô nghĩ ra “thuốc” này, trên cơ sở cho rằng một mô sinh học nếu bị đặt trong điều kiện ngặt nghèo (ví dụ, lạnh 0o trong 24 giờ) sẽ tiết ra chất kích thích sinh học (biostimulin). Muốn làm “thuốc”, chỉ việc mua gan lợn để lạnh 24 giờ, nghiền ra lọc lấy nước, cho thêm đường và hương vị, đóng ống và khử trùng bằng nhiệt. Đến nay, khi sinh học phân tử đã phát triển rất mạnh mẽ, vẫn chưa thấy công trình nào chiết ra được cái chất biostimulin kia và chứng minh tác dụng thật sự của nó.
Nói thêm. Đến 1993, khi chính phủ chấn chỉnh lại các hoạt động kinh doanhtrên thị trường (trường học không được kinh doanh nữa), trường đã biến xưởng do ông Trương Quang Ngọc phụ trách thành “công ty Đại Y”, và mời một số thầy hưu trí nhận danh nghĩa thành lập. Cho đến ngày giải thể, công ty đã nộp lãi đáng kể cho trường. Riêng 2 năm 1995-97 đã nộp 948 triệu, đóng thuế cho nhà nước gần 100 triệu (giá 1 “cây” vàng 4,7 triệu).

16-1-1988 có Hội nghị công nhân viên chức do chính quyền và công đoàn phối hợp cùng tổ chức. Ngoài việc lớn được toàn trường quan tâm là cải cách giáo dục, thì tình hình đời sống cũng thu hút sự chú ý của các đại biểu. Về ngân sách năm trước, do phó tiến sĩ Văn Đình Hoa (mới được bổ nhiệm phó hiệu trưởng) trình bày: đã được cấp 57.108.000 đồng để chi mọi khoản cho 912 cán bộ và 2130 sinh viên.

Những khoản “không thể đừng” như lương, học bổng, y tế, công tác phí, trợ cấp) đã hết 71,64% kinh phí, phần chi cho giảng dạy và nghiên cứu vẻn vẹn có 6,08% (3,5 triệu). Số còn lại “tức dữ trữ chiến lược” là 12,7 triệu - nghĩa là mỗi tháng được phép chi 1 triệu cho mọi thứ đột xuất khác của cả trường. Mọi người hiểu ra vì sao năm qua, nhiều dự trù đột xuất chậm được giải quyết. Về sản xuất, sau khi nghe tình hình 1987, mọi người phấn khởi khi biết trong kho còn dự trữ 8 tấn đường (giá 4 triệu đồng), 4 tấn tube thuỷ tinh (giá 1,37 triệu); nghĩa là đủ vật tư để sản xuất tiếp vài tháng nữa. Hiếm khi mọi người quan tâm đến sản xuất như hồi dó, quan tâm không kém đối với cải cách giáo dục.
Về nhân sự, 39 thầy cô được công nhận đặc cách chuyên khoa I và II; 3 thầy đi thực tập sinh, 22 ra nước ngoài dự hội nghị và tham quan, 9 đi học đại học; 11 đi chuyên gia mà thực chất là nhằm tăng thêm thu nhập; 17 đi học ngoại ngữ; hầu hết cán bộ đã được học sư phạm y học. Bổ nhiệm và đề bạt 16 người: 1 phó hiệu trưởng, 1 trưởng bộ môn, 9 phó trưởng bộ môn, 3 trưởng phòng, 2 phó phòng. Tiếp nhận 36 người (có 13 người mới gồm các bác sĩ nội trú).
Mức ăn của sinh viên phải nâng lên 2000 đồng/ngày mới đủ cho 3 bữa hàng ngày (năm 1987 có đổi tiền, đây là giá sau đổi tiền); nghĩa là gia đình sinh viên phải đóng góp thêm 500 đồng cho mỗi ngày vào số tiền học bồng mặc dù 100% sinh viên đều được cấp học bổng.

Qua nội dung hội nghị còn ghi lại được, có thể hiểu phần nào tình hình và mối quan tâm của mọi người hồi đó. Chính sách “giá-lương-tiền” đã phát huy những ảnh hưởng tiêu cực. Sau khi được hưởng lương mới do chính sách này mang lại, đời sống có khá hơn; nhưng sự phát hành tiền không tương ứng với mức tăng trưởng sản phẩm xã hội nên đồng tiền mất giá nhanh. Đến hội nghị này, vấn đề bất hợp lý về lương đã được nêu ra, nhưng không phải nội dung định bàn. Dẫu sao, nó cũng nói lên nỗi bức xúc

Việc tăng một bậc lương (tuy chẳng đáng là bao) nhưng được nhiều người rất quan tâm, vì ngoài lương ra, rất ít ai có nguồn thu nhập nào đáng kể khác. Đã vậy, hàng năm chỉ tăng lương rất nhỏ giọt; qua năm tháng nhưng bất hợp lý tích luỹ lại: hoặc thiệt thòi rất lớn (thua kém bạn cùng khoá tới 2 hay 3 bậc), hoặc được ưu đãi đến mức khó hiểu. Một số bậc lương cũ bỗng bị chẻ đôi ra để tạo thành hai bậc lương mới khiến một số đông thầy cô trẻ thấy rằng mình có làm việc đến 40 năm cũng không thể leo hết được các bậc mà người ta đặt ra. Ngày 18-4-1988 các thầy lớn tuổi (trước đó đang hưởng bậc lương 130 đồng) được triệu tập để “nghe giải thích” vì sao có người được chuyển sang bậc lương mới là 505 đồng, nhưng có người lại bị xếp vào bậc 462 đồng. Té ra, 130 đồng là bậc bị “chẻ đôi”. Tuy nhiên, trình độ phó giáo sư mà càng nghe giải thích lại càng khó hiểu. Nguyên nhân của nguyên nhân là “cấp trên” chỉ cho phép Bộ Y tế một tỷ lệ chuyển đổi như vậy. Mọi người ngao ngán lắc đầu. Đó là tâm trạng của những người chủ chốt thực thi cải cách giáo dục (như các vị Minh Tâm, Trà, Minh, Thăng, Vượng, Duyệt, Xang, Uyên, Liêu, Thọ...).

Đại hội đoàn TNCS ngày 16-5-1988 cũng nói nhiều tới Cải cách giao dục, được sinh viên rất quan tâm vì chính họ đang được dự kiến sẽ về công tác ở cơ sở. Khẩu hiệu cho thanh niên khi đó vẫn là “sẵn sàng đi bất cứ đâu”.

Những người học giỏi có thể chưa thông chuyện này lắm (qua vài ý kiến phát biểu ở hội nghị), nhưng tất cả đều không ngờ rằng khi ra trường họ phải chờ đợi khá lâu mới xin được việc, nhất là từ lớp Y3 trở xuống - dù chấp nhận “sẵn sàng đi bất cứ đâu”. Đáng chú ý là tuổi bình quân của thanh niên toàn trường là 21, nhưng khi bầu 21 người vào Ban chấp hành thì tuổi bình quân lại là 28, có tới 9 người tuổi đã trên 30; có người 35, chỉ có 6 người thật sự đang là sinh viên (2 trong số này là lính phục viên). Thanh niên có xu hướng bầu “thầy” và bạn lớn tuổi vào ban chấp hành. Có dấu hiệu thanh niên ít tha thiết với Đoàn.

28-9-1988: Sau khai giảng vài tuần, có hội nghị về kế hoạch năm học mới. Chưa từng có hội nghị tương tự nào sớm như vậy. Hội nghị gồm hai phần:
1) Phó giáo sư Lê Nam Trà trình bày chủ trương của Bộ Đại Học về “mềm hoá” đào tạo (hệ B; hai giai đoạn...); mở rộng đào tạo sau đại học; cải tiến tuyển sinh.
2) Giáo sư hiệu trưởng trình bày về kế hoạch của trường:
a) Xây dựng cơ bản;
b) Cải cách giáo dục;
c) Đẩy mạnh hoạt động kinh tế.

Như vậy, phải lồng chủ trương của Bộ Đại học vào chương trình cải cách mà trường đang thực thi; dù có một số mâu thuẫn, ví dụ BS cộng đồng là “miệng nói tay làm” hay chỉ “tiềm năng”?.
Nhà B1 tốn 5 năm mới xây xong, sẽ là nơi cho các bộ môn chức năng; nhà A3 sẽ sửa chữa cho các bộ môn hình thái (gồm cả Giải Phẫu). Xúc tiến xây B2 (đã đào móng), cố xong trong năm 1989 để 1990 có thể đào móng B3. Đó là thời điểm chuyển mọi bộ môn từ 13 Lê Thánh Tông về Khương Thượng. Nội dung tương tự cũng được thầy hiệu trưởng phát biểu ở đại hội Đảng bộ (22-12-88)
Về cải cách giáo dục: năm nay phải công bố chương trình mới cho từng sinh viên và tất cả được phát giáo trình trước (để giảm giờ lên lớp).
Những điều nói trên rõ ràng là đương nhiên, không cần bàn cãi. Chúng có được thực hiện hay không, nhanh hay chậm chỉ còn phụ thuộc vào kinh phí. Thực tế, chúng rất ít được thực hiện, nhất là việc phát bài trước. Đến 2002, việc này vẫn còn khó khăn.

30-6-1989, tổng kết tuyển sinh đại học, với 2750 thí sinh, đề thi do trường tự soạn, tự chấm, với kết quả đánh giá là “tốt, đúng quy chế”. So với cuộc tuyển sinh 4 năm trước thì 3 từ “đúng quy chế” của trường đại học Y Hà Nội là cả một cuộc phấn đấu để thực hiện và giữ vững nó. Từ đó đến nay, năm nào cũng các cuộc tuyển sinh cũng được đánh giá như vậy.

Sau đó, Bộ Y tế thông báo: Giáo sư thứ trưởng Hoàng Đình Cầu trước đây được tạm cử kiêm chức hiệu trưởng một thời gian, nay rút về Bộ. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế, trường sẽ tiến hành bầu hiệu trưởng. Đây là trường thứ 15 trong cả nước làm việc này và là trường đầu tiên thuộc Bộ Y Tế.

Sau khi giáo sư hiệu trưởng Hoàng Đình Cầu trở về Bộ Y tế, ngày 30-9-1989, bộ trưởng Phạm Song cho trường Y Hà Nội tiến hành bầu hiệu trưởng. Theo quy trình, bộ trưởng duyệt và chấp nhận danh sách ứng cử; sau đó chọn ai là dựa vào sự tín nhiệm của viên chức nhà trường. Cuối cùng, danh sách ứng cử được Bộ trưởng ấn định là 5 người, tất cả đều là phó giáo sư (Lê Đăng Hà, Nguyễn Hữu Hồng, Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Thụ, Lê Nam Trà), vòng 1 không ai được trên 50% phiếu; vòng hai còn lại hai phó giáo sư Hồng và Thụ. Phó giáo sư Nguyễn Thụ đã dược bổ nhiệm vào chức vụ này. Trước đó, ông là phó hiệu tưởng, bí thư đảng uỷ.

Không khí buổi giới thiệu và chất vấn ứng cử viên diễn ra không như ý. Phóng viên Cẩm Bình viết về buổi đó có câu “cái nền văn hoá không cao”. Một ứng cử viên không được bộ trưởng chấp thuận đã có những phản ứng gay gắt trước đông đảo hội nghị; sau đó những người ủng hộ ứng cử viên này có thái độ thiên lệch, với những câu hỏi soi móc rất khó được hoan nghênh. Đáng lẽ nên có sự chọn lọc cử tri hơn nữa (những người quan tâm tới việc lớn của trường và hiểu rõ chức trách hiệu trưởng) để tránh những biểu hiện lệch lạc (thể hiện qua chất vấn). Dẫu sao, cuộc bầu hợp lệ, hiệu trưởng được chọn một cách xứng đáng.

Trong giai đoạn này, ngày 14-3-1990, Bộ Trưởng Bộ Y Tế ký quyết định số 168/BYT-QĐ thành lập Khoa Y Tế Công Cộng. Việc này đã có những ảnh hưởng nhất định tới hoạt động của một số bộ môn y học dự phòng của trường. ý tưởng của Bộ Trưởng không sai mà trái lại rất tiên tiến, nhưng về tổ chức nhận sự, tại quyết định số 222 và 223/BYT-QĐ có những việc chưa hợp lý nên đã dẫn đến những căng thẳng không cần thiết; vì vậy Khoa YTCC ra đời nhưng chưa có được những hoạt động đóng góp cho nhà trường.

Trên thị trường, giá cả vẫn tăng, nhưng tốc độ tăng giá đã giảm dần. Cơ chế khoán trong nông nghiệp khiến lương thực dôi dư, có xuất khẩu chút ít. Nhưng ngân sách (9 tháng) được công bố chưa cho thấy sự cải thiện nào.

Được cấp 877.334.000 đồng; các khoản buộc phải chi chiếm 606.658.000 đồng, tức 73%; còn lại 27% thì 1/3 chi cho nhà ở, điện, nước. Hệ chính quy mở rộng chỉ thu được 172.000.000 đồng, số tiền này được chia cho cán bộ (30%), phúc lợi (20%) và đưa vào kinh phí giảng dạy (50% - nghĩa là “lỗ”).

Hội đồng lương họp liên tiếp hàng chục buổi (có tuần 3 buổi) cho đến tận ngày 29 và 30. Có khi phải họp đêm mới kịp lập được danh sách tăng lương. Những người trong diện được xét tăng đã thăm dò kết quả từng ngày họp để còn kịp thời đưa “thắc mắc”, “kiến nghị”. Những năm trước cũng y hệt. Số người đến niên hạn rất nhiều; số được tăng rất hạn chế (néu mỗi năm chỉ 10% được tăng lương thì phải 10 năm mới đến lượt). Các danh hiệu thi đua rất hình thức, không có tiêu chuẩn chính và đều không định lượng nên lương không còn công bằng nữa. Dù làm việc rất tốt (thể hiện ở số công trình đã công bố) nếu ốm hai tuần cũng đủ “không lên lương”, làm việc phất phơ nhưng có mặt đầy đủ (vào giờ mở cửa) sẽ lên lương sớm; viết bích báo, tham gia văn nghệ, hoạt động đoàn thể, ... đều ưu tiên lên lương. Trong cái mớ bòng bong của chế độ bao cấp và hình thức chủ nghĩa đó, “ban lương” phải đưa ra một danh sách ít gây thắc mắc và phản ứng nhất.

Sang năm 1990, tốc độ tăng giá giảm rõ. Đó là thành tựu lớn lao mang lại từ công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, tác động của giai đoạn khó khăn lên giáo dục và y tế vẫn còn nặng nề. Ngày 9-3-1990 đích thân bộ trưởng Trần Hồng Quân về trường thuyết trình và giải đáp các thắc mắc về đào tạo hai giai đoạn. Nghĩa là trường không thể trì hoãn thêm nữa.

Ngày 4-5-1990 các ban chủ nhiệm và toàn thể giáo vụ bộ môn tới Hội trường lớn để nghe về “đào tạo hai giai đoạn theo diện rộng”, do phó hiệu trưởng Vương Hùng thuyết trình.

Từ đó nội dung các cuộc họp về đào tạo chủ yếu nói về đào tạo hai giai đoạn, do Bộ GD-ĐT chỉ đạo, mà không nói về cải cách giáo dục nữa. Người trực tiếp thực thi là phó giáo sư Vương Hùng, nhưng sau đó chủ yếu là phó giáo sư Phạm Thị Minh Đức, đều là phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo đại học. Trong thực thi, những người trực tiếp liên quan với công tác này đều cảm nhận rất rõ sự áp đặt của Bộ Y tế.

GIAI ĐOẠN KHỞI SẮC VÀ PHÁT TRIỂN: TỪ 1990 ĐẾN NAY

Một số sự kiện

1. Thay đổi Ban Giám Hiệu.

Ngày 16-9-1993, dựa trên kết quả số thư giới thiệu, PGS. Tôn Thất Bách được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng nhiệm kỳ 1993-1997. Ông đã đề nghị và được đảng uỷ nhà trường và Bộ Y Tế chấp nhận bổ nhiệm các Phó hiệu trưởng là PGS. Phạm Minh Đức ( phụ trách đào tạo đại học ), PGS. Phạm Mạnh Hùng ( chuyển từ Học Viện Quân Y ra phụ trách đào tạo sau đại học ) và Cử nhân sinh học Hoàng Thế Long ( phụ trách hậu cần ). Đây là lần đầu tiên sau 50 năm toàn bộ Ban Giám Hiệu mới lên thay thế Ban Giám Hiệu cũ. Năm 1996, PGS Phạm Mạnh Hùng chuyển lên Bộ Y Tế làm Vụ Trưởng Vụ Tổ Chức rồi Thứ Trưởng Bộ Y Tế. Năm 1997, PGS Lê Văn Khang được bổ nhiệm Phó Hiệu Trưởng phụ trách công tác TCCB. Nhiệm kỳ sau, cũng thông qua thư giới thiệu, PGS Tôn Thất Bấch tiếp tục được tái bổ nhiệm chức vụ Hiệu Trưởng, các phó hiệu trưởng là các PGS Nguyễn Thị Hà ( phụ trách đào tạo sau đại học ), Nguyễn Văn Tường ( phụ trách nghiên cứu khoa học ) Đinh Hữu Dung ( phụ trách đào tạo đại học ) và bác sĩ Đỗ Hán ( phụ trách hậu cần ) được Bộ Y Tế bổ nhiệm cùng với phân công lĩnh vực phụ trách trong quyết định. Riêng PGS Lê Văn Khang ( phụ trách công tác chính trị và tổ chức cán bộ ) mới bổ nhiệm năm 1997 nên vẫn tiếp tục giữ vị trí phó hiệu trưởng.

Đây là giai đoạn có nhiều khởi sắc của nhà trường. Năm 1994, toàn bộ khu làm việc được chuyển từ khu nhà E5 sang tầng trệt thư viện và một số phòng A3 và khu vực này được cán bộ gọi đùa là “ khu nhà trắng “. E5 được nâng cấp thành ký túc xá cho học viên sau đại học.Khu vực nhà ăn và ký túc xá, câu lạc bộ sinh viên được đặc biệt tăng cường đầu tư nhằm xây dựng nhân cách trong sinh viên. Hoàn thiện và đặt tên giảng đường Hồ Đắc Di vào lễ hội kỷ niệm 50 năm Trường Đại Học Y thuộc về dân tộc. Cải tạo và trang bị phương tiện nghe nhìn cho các giảng đường. Tiếp nhận viện trợ của JICA Nhật Bản tăng cường đầu tư cho các bộ môn khoa học cơ bản và y học cơ sở. Quan hệ đối ngoại được rộng mở đa phương với nhiều nước như Pháp, Thuỵ Điển, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hà Lan, Australia, Thái Lan, Philippin ... Trường được Bộ Y Tế chính thức giao cho nhiệm vụ làm đầu mối trong hợp tác đào tạo với CH Pháp theo con đường chính phủ. Cảnh quan nhà trường thay đổi rõ rệt.

2. Các đại hội Đảng Bộ.

Năm 1994, Đại Hội Đảng Bộ lần thứ 24 đã bầu PTS Lê Văn Khang, Trưởng Phòng TCCB làm bí thư thay cho GS Lê Đăng Hà, Phó Bí Thư là PGS Phạm Mạnh Hùng. Năm 1996, Đại Hội Đảng Bộ lần thứ 25 bầu ra BCH 15 đồng chí, Bí thư: PGS Lê Văn Khang, Phó Bí Thư: Phạm Thị Thu Hồ. Năm 1999, Đại Hội Đảng Bộ lần 26 bầu ra BCH có 15 đồng chí, Bí Thư và Phó Bí thư vẫn giữ nguyên, các uỷ viên Thường Vụ được bổ sung hai đồng chí mới: Đỗ Hán và Đinh Hữu Dung. Năm 2001, Đại Hội Đảng Bộ lần thứ 27 bầu ra 5 uỷ viên Thưởng Vụ: Lê Văn Khang ( Bí Thư ) Đỗ Hán (Phó Bí Thư ), Đinh Hữu Dung, Vũ Thị Phương ( được bầu Chủ tịch Công Đoàn tại Đại Hội Công Đoàn lần thứ 27 năm 2002 ) và Hoàng Quốc Bảo.

3. Về nhân sự

Trưởng Phòng Đào Tạo Sau Đại Học ( thay cho tên gọi cũ là Khoa Sau Đại Học ) là Nguyễn Thị Hà ( 1993-1997 ) Phạm Nhật An ( 1998-2002 ), Trưởng Phòng Nghiên Cứu Khoa Học là Nguyễn Văn Tường ( 1993-1997) và Nguyễn Ngọc Hùng ( 1998-2002 ); Đào Tạo Đại Học là Đinh Hữu Dung ( 1993-1997 ), Nguyễn Trọng Thông ( 1998-2002 ); Tổ Chức Cán Bộ là Lê Văn Khang ( 1993-2002 ).Trưởng Phòng Giáo Tài là Vũ Văn Đoan ( 1993-2002 ), Trưởng Phòng Hành Chính là Đào Xuân Tích ( 1993-1997 ) Phùng Văn Hoàn ( 1998-2002); Trưởng Phòng Quản Trị là Hoàng Kỳ ( 1993-1997 ) và Hoàng Ngọc Thanh ( 1998-2002 ); Trưởng phòng Tài Vụ là Trương Văn Chắc ( 1993-2002 )

4. Về Tổ Chức: Đơn vị mới thành lập

Bộ môn Gây mê hồi sức lúc đầu là phân môn nằm trong bộ môn Ngoại (BS Tôn Đức Lang phụ trách) và từ 1992 tách riêng bộ môn (GS. Nguyễn Thụ phụ trách), có vai trò đầu ngành, và nay được chuyển thành bộ môn đào tạo sau đại học.

Ngày 25-3-1991, thành lập Bộ môn Phẫu thuật tạo hình, giảng dạy sau đại học (GS. Nguyễn Huy Phan, PTS Lê Gia Vinh). Ngày 15-7-1992, thành lập Bộ môn Miễn dịch học sau 6 năm môn này chính thức dạy cho Y2, nhưng ghép vào Bộ môn Sinh lý bệnh, như một sự đổi tên Sinh lý bệnh thành Miễn dịch - Sinh lý bệnh. Ngày 22 tháng 1 năm 1999 thành lập Bộ Môn Giáo Dục Y Học theo quyết định số 286/1999/BYT-QĐ do Phó Giáo Sư Phạm Thị Minh Đức phụ trách.

Bộ môn Giáo Dục Y Học được thành lập dựa trên kết quả hoạt động của trung tâm bồi dưỡng giáo viên. Do là các cán bộ giảng dạy trường Y tuyệt đại đa số không được đào tạo phương phát sư phạm trước khi về trường vì vậy các khái niệm về sư phạm như mục tiêu giảng dạy, tài liệu phát tay, giảng dạy và đánh giá theo mục tiêu giảng dạy là một tồn tại lớn. Từ nhiều nhiệm kỳ trước của các Ban Giám Hiệu tiền nhiệm đã tập trung vào khắc phục bằng cách mở các lớp đào tạo giáo viên. Từ năm 1994, với sự giúp đỡ trực tiếp của dự án Hà Lan và gián tiếp qua Vụ KHĐT Bộ Y tế của chương trình SIDA Thuỵ Điển, các hoạt động này có điều kiện phát triển vì vậy Bộ Môn Giáo Dục Y Học được thành lập. Có lẽ trường ta là trường đầu tiên có bộ môn này. Tác dụng của bộ môn không chỉ trong trường mà còn giảng dạy cho các trường bạn như Cần Thơ, Tây nguyên, Huế, Hải Phòng, Thái Bình…

Ngoài các bộ môn, trong giai đoạn này có rất nhiều trung tâm giảng dạy và nghiên cứu được thành lập như trung tâm nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng, trung tâm nghiên cứu và đào tạo HIV/AIDS, trung tâm dân số kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản, đơn vị dịch tễ học lâm sàng…

Nhiệm vụ các trung tâm này là tranh cử các dự án nghiên cứu, dự án đào tạo để đưa thêm kinh phí nghiên cứu về cho trường; tham gia đào tạo đại học và sau đại học theo các chuyên đề như dân số kế hoạch hoá, HIV/AIDS, y tế cộng đồng…

Ngày 23 tháng 3 năm 1999, Bộ Trưởng Bộ Y Tế quyết định thành lập hai Khoa: Khoa Răng Hàm Mặt, Khoa Y học Cổ truyền. Còn Khoa Y Tế Công Cộng đã có quyết định thành lập từ năm 1990 nên chỉ có quyết định bổ nhiệm nhân sự. Cùng với sự thành lập các khoa, là thành lập các bộ môn nằm trong các khoa đó. Đây là bước khởi đầu của sự hình thành Viện đại học Y Dược Hà Nội.

5. Hội đồng chức danh cơ sở được thành lập, gồm 45 vị, nhiệm kỳ 5 năm và làm việc ngay để thi hành chủ trương phong tặng học hàm (chức danh) khoa học đợt mới mà suốt 6 năm chính phủ bỏ bẵng. Ngày 03-11-1990 Hội đồng nghe 79 vị ứng cử chức danh giáo sư và phó giáo sư trình bày kết quả nghiên cứu khoa học và đào tạo của mình (theo tiêu chuẩn đã được lượng hoá thành “điểm”. Ngày 5-11-1990, bỏ phiếu. Có 21 thầy cô được đề nghị lên hội đồng cấp trên xét tiếp học hàm giáo sư và 30 thầy cô được đề nghị xét tiếp học hàm phó giáo sư. Cộng 51 vị

Ngày 16-10-1990 Hội đồng xét tiếp cho cho 42 vị.
Sau đợt xét chọn này, Hội đồng học hàm trung ương công nhận cho trường ta trên 40 giáo sư và phó giáo sư.

Tất cả những người dược công nhận đều xứng đáng. Tuy nhiên, nhiều vị điểm rất cao nhưng công trình lại khá tản mạn, không kết lại được để thành những mảng lớn. Đó là do:
1) Một số do có quyền hành trong tay khiến “đàn em, đàn cháu” buộc phải đưa tên tuổi vào công trình của họ; có vị hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh nhưng thực chất nghiên cứu sinh bị thả nổi, tự bươn chải.
2) Không có điều kiện đi sâu vào một đề tài, do gặp những khó khăn không thể vượt qua, đã đổi đề tài khác.
Rõ ràng cần đưa vào tiêu chuẩn bầu chọn: đương sự phải viết bản tổng kết vắn tắt những kết quả nghiên cứu thật sự nổi trội của chính mình.

6. Tổ chức kỷ niệm 90 năm thành lập trường và nhận huân chương Độc Lập hạng 2, sau gần một năm chuẩn bị mọi mặt. Trong bài phát biểu của Tổng bí thư Đỗ Mười, thầy trò rất xúc động và vui mừng với 2 ý:
1) Ngày hội hôm nay cũng là ngày hội của toàn ngành đại học Việt Nam;
2) Trường đại học Y có bề dầy lịch sử lâu đời nhất, chỉ sau Quốc Tử Giám.

Vậy, liệu nó có được thừa nhận là trường kế tục của Quốc Tử Giám hay không, điều đó còn phụ thuộc vào sự nghiên cứu lịch sử trường, đi sâu bối cảnh ra đời cũng như cũng như những vai trò lịch sử của trường. Đây là việc của trường, không ai có thể làm giúp được.

Khó nhất là quyên góp tiền và tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, các cựu sinh viên với tư cách cá nhân và đang ở cương vị quản lý đã ủng hộ số tiền lớn, sau khi trang trải các khoản chi tiêu hết sức tiết kiệm, vẫn còn lại trên 250 triệu chuyển sang ban giám hiệu nhiệm kỳ sau. Số bài báo và số buổi phát thanh truyền hình đã phát là trên 100, khiến khán-thính giả trong và ngoài trường hiểu thêm về vai trò và sự đóng góp của trường, chưa kể gần 30 bài ở báo nội bộ in rải rác trong năm; ngoài ra còn khoảng 50 bài dưới nhiều thể loại in ở số dặc biệt đã giúp bạn đọc hiểu được những nét lớn trong lịch sử 90 năm của trường. Ban Tư liệu - Lịch sử được thành lập và được duy trì đến kỷ niệm 100 năm thành lập trường. Cũng dịp này, đã ra được một cuốn băng video về lịch sử trường, với giá 20 triệu đồng, do ông Việt Tùng thực hiện.

7. Tổ chức kỷ niệm 50 năm trường Y phục vụ cách mạng và nhận huân chương độc lập hạng nhất. Năm 1995 nhiều cơ quan, nhiều ban ngành kỷ niệm 50 năm phục vụ cách mạng, trong đó trường đại học Y chọn ngày 15-11 là ngày khai giảng của năm 1945. Trường đại học Dược trong dịp này cũng có cuộc kỷ niệm tương tự.. Các lớp cựu sinh viên về dự lễ thấy được sự phát triển của trường trong 5 năm qua và cũng rất tự hào là đã từng học ở trường này; họ được đón tiếp trân trọng và thân ái. Cũng trong ngày kỷ niệm này, Ban Giám Hiệu đã khánh thành và đặt tên cho Khu Giảng Đường Hồ Đắc Di để ghi nhớ công lao của người hiệu trưởng Việt Nam đầu tiên.

Đặc biệt là các cựu sinh viên thời chống Pháp: những người sát cánh cùng thầy Di, thầy Tùng và các thầy tiền bối khác làm nên một thời kỳ hào hùng nhất trong lịch sử trường: thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Các vị được đặt vấn đề tập hợp lại để góp phần giúp trường viết lại chi tiết giai đoạn lịch sử đó. Cuốn “Thầy trò trường Y-Dược trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)” sẽ ra mắt bạn đọc như sự ghi lại cho thế hệ sau những việc làm của cha ông và cũng là sự tỏ lòng biết ơn của họ đối với thế hệ đi tước. Cựu sinh viên cũng rất khen số báo nội bộ: với gần 50 bài viết phủ kín các giai đoạn, các sự kiện lớn và các nhân vật của trường đã giúp bạn đọc hình dung lại thời kỳ này. Về kinh phí tổ chức, so với lần tổ chức 90 năm, lần này trường không phải đi từng nơi vận động mà các địa phương giúp đỡ nhà trường thông qua các thông tin theo đường công văn.

8) Nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà Nước về Khoa Học Kỹ Thuật cho các Giáo sư nhà trường. Năm 1996, theo quyết định số 991-KT/CTN ngày 10-9 của Chủ Tịch nước trao tặng Giải Thưởng Khoa Học Kỹ Thuật Hồ Chí Minh cho 33 cụm công trình trong đó có 12 cụm công trình y dược. Có 8 trên 12 giải thưởng này thuộc về các thầy của trường ta.

Các thầy được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh là Hồ Đắc Di, Đặng Vũ Hỷ, Tôn Thất Tùng, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Văn Ngữ, Trần Hữu Tước, Hoàng Tích Mịnh và Phạm Ngọc Thạch.

Năm 2000, quyết định số 392-KT/CTN và 391-KT/CTN ngày 1-9 đã phong tặng 21 cụm công trình giải thưởng Hồ Chí Minh, trong đó có 4 giải thưởng về y dược và 2 giải thưởng thuộc về trường ta; 71 tác giả được nhận giải thưởng Nhà Nước trong đó có 20 công trình y dược và 8 giải thưởng thuộc về các thầy trường ta. Giải thưởng Hồ Chí Minh: GS Đặng Văn Chung và GS Vũ Công Hoè. Giải thưởng Nhà Nước: các giáo sư Nguyễn Trinh Cơ, Đinh Văn Thắng, Lê Kinh Duệ, Vũ Triệu An, Trịnh Ngọc Phan, Phạm Khuê, Chu Văn Tường, Hoàng Sử.

9) Được tuyên dương danh hiệu anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới. Đó là thời kỳ từ 1986 - 2000, toàn trường phấn đấu hết sức gian khổ (1986-1990) để duy trì sự ổn định, duy trì đào tạo và nghiên cứu khoa học, sau đó là sự phát triển vững chắc nhiều mặt (1990-2000), nhất là những năm gần đây; đặc biệt là công tác đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I cho các vùng khoa khăn ở miền núi phía bắc, miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.

Trình bày trước Hội Đồng Khen Thưởng Nhà Nước, Hiệu Trưởng nhà trường đã tnêu rõ những nét nổi bật của nhà trường trong quá trình đổi mới gồm:
1) Tập trung đầu tư cho sinh viên về vật chất và tinh thần;
2) Tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy;
3) Tập trung ưu tiên đào tạo tại chỗ BSCKCI cho các tỉnh khó khăn để cung cấp nguồn lực cho giai đoạn đổi mới;
4) Công tác nghiên cứu khoa học tập trung trên ba lĩnh vực y học cơ sở, y học lâm sàng và y tế cộng đồng;
5) Mở rộng hợp tác quốc tế đa phương để tăng cường trao đổi cán bộ đồng thời tăng ngân sách cho nhà trường. Báo Hà Nội mới số ra ngày 30-12-2000 đưa tin: Sáng 29-12-2000, Bộ Y Tế phối hợp với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo tổ chức Lễ đón nhận Danh Hiệu Anh Hùng Lao Động của nhà nước trao tặng cho tập thể cán bộ công nhân viên Trường Đại Học Y Hà Nội. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, cố vấn Đỗ Mười gửi thư chúc mừng, cố vấn Lê Đức Anh, Thủ Tướng Chính Phủ Phan Văn Khải, Chủ Tịch Quốc Hội Nông Đức Mạnh gửi lẵng hoa chúc mừng. Đến dự có Phó Chủ Tịch Nguyễn Thị Bình, Bộ Trưởng Bộ Y Tế Đỗ Nguyên Phương, Bộ Trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Minh Hiển …

10) Chuẩn bị kỷ niệm 100 năm thành lập trường (1902-2002).

Thời kỳ này, kinh phí được cấp cao hơn trước, ngoài ra còn một số nguồn khác do sự năng động và tự khai thác được của Ban Giám Hiệu trường. Ngày 31-10-1998, Thủ Tướng Chính Phủ chính thức phê duyệt Dự án cải tạo mở rộng Trường Đại Học Y Hà Nội với tổng kinh phí 326,5 tỷ đồng tập trung xây dựng các khu nhà giảng đường B3, nhà điều hành, cải tạo các nhà ký túc xá E5, E1, E2 và E3 thành khu nhà có các căn phòng khép kín, bổ sung trang thiết bị cho labô trung tâm và một số bộ môn, nhà tiền lâm sàng, giải phóng mặt bằng, xây dựng sân vận động….

Ví dụ, sang năm học 1998-1999, trường đã quản lý các nguồn sau: Kinh phí hành chính sự nghiệp (do Bộ Y tế cấp): 15 tỷ 200 triệu; Kinh phí đào tạo SĐH (do Bộ GD-ĐT cấp): 1 tỷ 644 triệu; Kinh phí NCKH: 1 tỷ 043 triệu; Kinh phí đào tạo lại: 81 triệu; Thu học phí (sinh viên và học viên SĐH) 4 tỷ 500 triệu;
Quỹ vãng lai (dự án): 900.114.000đ; chưa kể kinh phí xây dựng cơ bản.
Đời sống viên chức đã khác hẳn những năm suy thoái, nhưng sự điều chỉnh lương không theo kịp nhu cầu vật chất của cuộc sống. Trường vẫn phải dành nhiều công sức tự tạo quỹ phúc lợi để mỗi dịp kỷ niệm trọng đại có thể tặng viên chức của trường khoảng 200.000-300.000 đồng. Năm 1998-1999 quỹ phúc lợi còn 563.407.200đ và mỗi năm ít nhất phải bổ sung con số như vậy nữa mới đủ.

Nhờ vậy, từ năm học 1994-1995 tiến độ xây dựng cũng khác hẳn trước. Việc sửa chữa, nâng cấp nhà cũng như cung cấp phương tiện dạy học và các vật dụng khác đã có những tiến bộ mới. Bộ mặt của trường đã chỉnh trang hơn nhiều.

Ví dụ, đã bảo vệ thành công đề án xây dựng tổng thể mặt bằng để làm cơ sở pháp lý giải quyết các hộ lấn chiếm trong trường; xây dựng xong 400 chỗ còn lại của giảng đường 1000 chỗ, nâng cấp khu nhà ở sinh viên, các khu nhà làm việc và khu giảng đường mới. Khu nhà Điều Hành sẽ hoàn tất trước ngày kỷ niệm 100 năm thành lập trường. Tuy nhiên, vấn đề nổi lên là mặc dù được sự ưu tiên đầu tư của viện trợ JICA Nhật Bản phục vụ cho giảng dạy, nhưng trang thiết bị nghiên cứu của các bộ môn cơ sở vẫn rất nghèo nàn, xuống cấp - mà labo trung tâm không thể đủ sức thay thế một phần hay hỗ trợ được: do tính đặc thù của mỗi bộ môn.

Đào tạo đại học

Mục tiêu. Cuốn “sách xanh KAS”

Mục tiêu đào tạo đại học được xác định từ 1986 vẫn còn hiệu lực đến hiện tại với tên gọi cụ thể là bác sỹ đa khoa định hướng cộng đồng. Để thực hiện mục tiêu này, nhà trường đã thiết lập được hai vùng thực địa phù hợp với mục tiêu trên tại huyện Kim Bảng và huyện Sóc Sơn với sự hỗ trợ của dự án do quỹ Sasakawa tài trợ.

Sự hỗ trợ quan trọng để tiếp tục cải cách giáo dục là nguồn lực tài chính từ dự án SIDA thông qua Vụ KHĐT Bộ Y Tế và dự án Hà Lan 1 ( cho 4 trường đại học y Việt Nam ) và dự án Hà Lan 2 ( cho 8 trường đại học Y Việt Nam ). Đó là điều khác biệt rất cơ bản so với khi nhà trường bắt tay vào thực hiện cải cách giáo dục ở thập kỷ 80. Với nguồn lực này, trường đã mở các lớp sư phạm y học cho hầu hết thấy cô trong trường. Nhiều hiểu biết và kỹ năng tiếp thu được ở lớp đã được áp dụng rộng khắp: Các môn học y học đều đã có mục tiêu chung và mục tiêu từng bài; nhiều môn học đã có bộ test trắc nghiệm và đã sử dụng nhiều năm nay.

Đặc biệt, với vai trò trường trọng điểm, chủ nhiệm dự án Hà Lan, 16 môn học trực tiếp nhất trong thực hiện mục tiêu đã được tập huấn trong tất các trường Y cả nước để sau đó viết ra đầy đủ và chi tiết mục tiêu cụ thể về kiến thức, thái độ, kỹ năng của một bác sĩ mới ra trường. Đến nay công việc đã hoàn thành, toàn bộ sản phẩm tạo ra được tập hợp trong cuốn “sách xanh KAS”. Công việc tiếp theo sẽ là sẽ xây dựng khung chương trình chi tiết từ nền tảng của cuốn sách này cùng với viết ra các bài giảng để dạy và học theo phương pháp tích cực.

Với sự giúp đỡ của hai dự án Hà Lan, lần đầu tiên các cán bộ chủ chốt về giảng dạy trong 16 bộ môn của 8 trường y trên cả nước có dịp thảo luận và trao đổi về nội dung chi tiết của cuốn sách xanh: các chủ đề, vấn đề và các mức độ về những kiến thức, thái độ, kỹ năng tối thiểu của một người bác sỹ mới ra trường. Dựa trên các yêu cầu về kiến thức của các chủ đề này, các bộ môn khoa học cơ bản và y học cơ sở sẽ thấy cần phải dạy điều gì cho thích hợp và các bộ môn y học lâm sàng và y học dự phòng biết được phải dạy điều gì về lý thuyết và thực hành. Sau khi đã thống nhất, nhóm chuyên gia Việt Nam của dự án gồm chủ yếu các thầy cô của trường ta, bổ sung hai thầy của Trường ĐHYDTPHCM, một thầy của Trường Y Huế tập trung trong một tuần để tu chỉnh, sau đó PGS Phạm Thị Minh Đức biên tập lại. Sau khi hoàn thành biên tập, bản thảo lại gửi được gửi tới 8 trường đóng góp lần cuối. Cuốn sách xanh đã được báo cáo tại hai hội nghị đào tạo quan trọng do Bộ Y Tế tổ chức tại Huế và Thái Nguyên và được đánh giá cao của hai bộ và thống nhất là sẽ sử dụng làm cơ sở cho các trường xây dựng khung chương trình chi tiết. Câu hỏi cho các nhà quản lý ngành y tế là trong tương lai làm thế nào để đa số các bác sĩ đào tạo ra trong phạm vi cả nước sẽ về cộng đồng hành nghề; và muốn họ thực thi những điều đã học thì hệ thống y tế công lập hoặc dân lập phải đủ sức tiếp nhận họ. Điều này cần có những dự báo chính xác.

Dạy theo giai đoạn

Thầy trò nhà trường đã tốn rất nhiều công sức trong 6 năm chuyển đổi từ cách dạy theo niên chế sang cách dạy theo giai đoạn. Sự mềm hoá trong đào tạo, cũng như việc phát huy nội lực và tính chủ động của sinh viên không có gì sai, thậm chí đang là xu hướng của thế giới. Nó rất phù hợp với phương pháp dạy-học tích cực mà trường ta muốn thực hiện. Về nguyên tắc, nó không làm thay đổi mục tiêu mà trường đã xác định (bác sĩ cộng đồng) mà chỉ thay đổi phương thức đạt mục tiêu đó. Thuận lợi lớn là hầu hết thầy cô đã được học phương pháp Dạy-Học tích cực áp dụng trong Y học (trong nội dung của dự án SIDA và dự án Hà Lan).

Tuy nhiên, với ngành Y và với yêu cầu tiềm năng của bác sĩ cộng đồng, giai đoạn “đại cương” kéo dài tới hai năm sẽ ảnh hưởng tới giai đoạn “học nghề” sau đó. Bác sĩ về một cộng đồng, ví dụ một xã, phải thật sự làm được việc vì không còn ai có trình độ hơn mình để giải quyết các vấn đề liên quan tới sức khoẻ và mạng sống của đồng bào. Cộng đồng trong vòng 20 năm tới chưa thể chấp nhận “bác sĩ tiềm năng”. Chính ở chỗ này, trường Y Hà Nội miễn cưỡng chấp hành chủ trương của Bộ GD-ĐT và Bộ Y tế..

Nhớ lại chương trình bốn năm đào tạo y sỹ Đông Dương ngày xưa, nếu các vị học sinh ngày đó phải học cả ngoại ngữ, chính trị, quân sự, lao động... thì chương trình cũng phải kéo dài 6 năm mới đủ. Y sĩ Đông Dương là đa khoa, mang tính thực hành rất cao vì được đi bệnh viện ngay năm đầu tiên, nhưng cũng tương đương về trình độ cơ bản như đào tạo bác sỹ hồi đó - vì có nhiều môn họ học chung một giảng đường với các khoá bác sĩ. Theo giáo sư Vũ Công Hoè, thì không có sự cách biệt nhiều về trình độ thực tiễn giữa bác sĩ quốc gia và y sĩ Đông Dương. Tuy nhiên trong giai đoạn đó, khoa học cơ bản và y học cơ sở chưa có nhiều tiến bộ như ngày nay.

Mặt khác, muốn dạy theo học phần và học trình cũng cần giải quyết đồng bộ nhiều việc: chương trình với phần cứng ( bắt buộc ), phần mềm (tự chọn), sách và tài liệu phải được viết theo quy cách chung để giảm số giờ lên lớp, bộ câu hỏi trắc nghiệm để tăng cường kiểm tra nhưng không tốn thời gian... Nổi lên 2 vấn đề thực hiện đề án này là kinh phí và sự quyết tâm của toàn trường.

Đến nay, dù các khoá mới tuyển không còn đào tạo theo giai đoạn nữa, nhưng kinh nghiệm trên (điều kiện vật chất và tư tưởng) vẫn có thể áp dụng cho mọi chủ trương lớn mà trường muốn thực thi. Dự án SIDA và dự án Hà Lan đã hỗ trợ một phần kinh phí rất cơ bản trong đào tạo người thầy, nhưng để áp dụng Dạy-Học tích cực trong toàn trường thì cần có điều kiện để chia nhỏ lớp tổ trong thực tập và học lý thuyết cùng với sự quyết tâm vẫn là nhân tố quyết định. Dường như hiện nay, sự quyết tâm này chưa thật cao.

Để có đủ sách và tài liệu cho sinh viên, trường đã thành lập Ban chỉ đạo viết sách giáo khoa; đã sinh hoạt nhiều buổi, đã ra được các nguyên tắc và tiêu chuẩn cụ thể cho một cuốn sách phù hợp. Đã có những buổi họp toàn trường để lực lượng viết sách thống nhất các nguyên tắc và tiêu chuẩn cụ thể cho một cuốn sách. Nhưng số sách giáo khoa được viết ra còn một khoảng cách quá xa để đáp ứng sự tự học của sinh viên.

Có môn học, như Sinh Lý Bệnh và vài môn khác, đến năm 2001 mà sinh viên vẫn phải sử dụng sách in năm 1990, thậm chí 1985. Sự hỗ trợ mỗi trang viết 15.000 đồng là sự cố gắng vượt bậc của nhà trường, nhưng các thầy cô vẫn không thấy công sức mình bỏ ra được bù đắp đủ. Hi vọng dịp “kỷ niệm 100 năm” các thầy cô sẽ cố gắng hơn do ý thức trách nhiệm với trò.

Đáng chú ý là từ năm 1994, có sự thay đổi đáng kể trong cách thi tốt nghiệp. Về thi thực hành, đề bài và cách hỏi thi phải đúng là “thực hành”; còn về lý thuyết, thí sinh ngoài các môn chuyên ngành (lâm sàng) còn phải làm các câu hỏi về môn y học cơ sở (phù hợp với chuyên ngành). Cách thi này đòi hỏi sinh viên phải học nỗ lực hơn, nhưng cũng sẽ có ích hơn cho họ.

Dạy y đức cho sinh viên đang là vấn đề được quan tâm. Tuy đã bỏ được môn luận lý về Đạo Đức, rất ít tác dụng đến hình thành y đức, nhưng lại không có môn nào thay thế nó. Biện pháp hiện nay là nhắc nhở các thầy nêu gương cho sinh viên, đồng thời biểu dương (cả khen thưởng) những cá nhân sinh viên có hành động tốt về y đức. Tuy vậy, rõ ràng đây chưa phải cách dạy và nhất là chưa có nội dung, có chương trình và có mục tiêu cụ thể, có một nhóm thầy phụ trách và chịu trách nhiệm về chất lượng, có đánh giá, có kiểm tra thi cử để ghi điểm vào học bạ.

Số sinh viên thi vào trường mỗi năm một tăng. Điểm chuẩn nói chung năm sau cao hơn năm trước. Ngoài nguyên nhân bậc học phổ thông phát triển mạnh mẽ, học sinh tốt nghiệp phổ thông dù rất kém vẫn có quyền thi đại học; và dường như họ không còn con đường vào đời nào khác là thử thi đại học... thì còn một nguyên nhân khác là chất lượng và danh tiếng trường đại học Y Hà Nội cũng rất hấp dẫn họ. Từ 1986 đến nay, trường kiên quyết phục hồi tính chặt chẽ, công bằng và trong sạch trong tuyển sinh của một trường truyền thống. Bởi vậy, mỗi đợt thi tuyển là cả trường vất vả dài ngày; mọi nỗ lực bỏ ra chỉ nhằm đảm bảo cuộc thi an toàn, đúng quy chế.

Tuy nhiên, còn tuyển sinh theo cách cũ, trường còn vất vả, tốn kém tiền của, cũng như công sức, mà vẫn không chắc chắn đã tuyển được những người thích hợp nhất cho nghề nghiệp phòng và chữa bệnh cao quý, cần cả tài và đức. Cải tiến cách tuyển sinh cũng đang thành vấn đề của trường; ngoài trông đợi vào các biện pháp mới của Bộ GD-ĐT, trường cũng rất cần có sự chủ động suy nghĩ để tìm giải pháp.

Năm học 2002, Bộ GDĐT đã cải tiến tuyển sinh chúng đề, chung thời gian và sử dụng chung kết quả. Với đề thi chung, sinh viên đỗ vào trường ta có điểm chuẩn cao nhất trong khối B ở khu vực phía bắc: bác sỹ đa khoa: 26 điểm, bác sỹ RHM và YHCT 24,5 điểm; hệ cử nhân đại học ( điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế công cộng đều là 22 điểm. Điểm thí sinh đỗ thủ khoa là 31,5 điểm.

Đối tượng mới.

Phối hợp với Trường Cao đẳng Y tế Nam Định, nhà trường tổ chức giảng dạy các đối tượng cử nhân cao đẳng: nữ hộ sinh, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên các khoá VI, VII, VIII với tổng số 250 sinh viên. Đã tổ chức thi tốt nghiệp cho 145 sinh viên cao đẳng tại chức khoá VI. Từ năm 1995, trường ta bắt đầu tuyển sinh và đào tạo cử nhân đại học điều dưỡng chính quy khoá I; từ năm 1998, nhà trường tuyển sinh đào tạo cử nhân đại học y tế công cộng khoá I, bác sỹ RHM khoá I và bác sỹ YHCT khoá I. Năm 1999, tuyển sinh đào tạo cử nhân đại học Kỹ Thuật Y Học ( hệ xét nghiệm ) khoá I. Như vậy loại hình đào tạo đại học nhà trường đã được mở rộng. Các khoá cử nhân đại học như điều dưỡng tốt nghiệp được các bệnh viện trung ương tiếp nhận đánh giá cao về năng lực vươn lên. Đây là một trong những thành công bước đầu của kết quả đổi mới đào tạo.

ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

Nghiên cứu sinh

Năm 1992 có 16 luận án phó tiến sĩ (nay gọi là tiến sĩ chuyên ngành) được bảo vệ, mở đầu thời kỳ khởi sắc trong đào tạo sau đại học. Một mốc ghi dấu là luận án phó tiến sĩ thứ 100 của cử nhân Thẩm Hoàng Điệp được bảo vệ tháng 9-1992 (sau các luận án đầu tiên của bác sĩ Ngô Gia Thạch, Đào Ngọc Phong và Vũ Duy Thịnh tới 14 năm) và luận án cuối cùng năm đó, là luận án thứ 108 của BS. Phạm Duy Tường (28-12-1992). Từ đó tốc độ bảo vệ đã tăng nhanh đáng kể, ngày 25-7-1995 có luận án thứ 150 của BS. Nông Thị Tiến, NCS chính quy khoá X. Luận án 200 Đỗ Như Hơn NCS chính quy 23-12-1996, 16-10 năm 2001, luận án thứ 300 của bác sỹ Trịnh Hồng Sơn bảo vệ thành công. Tính đến ngày 10-10-2002, đã có 342 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án PTS và TS ở trường ta. Bên cạnh những NCS Việt Nam, chúng ta đã đào tạo cho các NCS Lào ( 2 người hệ chính quy ), Campuchia ( 2 người hệ ngắn hạn ) và Hung ga ri (1 người hệ ngắn hạn).

Số luận án tăng nhanh là do:
1) Trường có đội ngũ hướng dẫn đông đảo;
2) Sự tiêu chuẩn hoá các chức danh khoa học (đòi hỏi học vị tiến sĩ);
3) Kinh phí và chế độ cho NCS có phần cải tiến;
4) Sự cố gắng rất lớn của công tác quản lý. Đến nay, đã có 342 luận án tiến sĩ (phó tiến sĩ trước đây) được bảo vệ; trong đó 159 NCS hệ ngắn hạn và 183 NCS hệ chính quy. Tuy vậy, tình trạng chung trong cả nước là chất lượng các luận án chưa đạt mức mong muốn. Hiện nay chúng ta đang tiếp tục đào tạo 333 nghiên cứu sinh từ khoá 13 ( 1994 ) đến khoá 21 ( 2002 ).

Cao học

Đến 25.10.1991, trường được giao nhiệm vụ tuyển cao học. Khóa I tuyển được 45 bác sĩ mới ra trường; khóa II tuyển 40 người, nhưng khai giảng trễ 1 năm vì Bộ Đaị học chỉ cho phép tuyển bác sĩ trong biên chế, được cơ quan cử đi học (và cơ quan sẽ nhận về) Cách này đối phó được với tình trạng khó phân phối công tác cho thạc sĩ; nhưng từ nay thạc sĩ trong cả nước không còn trẻ nữa. Riêng ngành Y, với sự liên thông “Nội trú - Cao học” đã tránh được tình trạng này; mặt khác trường cho phép bác sĩ trẻ và chưa biên chế nếu đóng học phí cũng được thi vào cao học (cố nhiên, họ phải tự tìm việc sau khi học xong). Khóa III (1995) nhờ chỉ tiêu và kinh phí tăng lên, trường tuyển 100 đối tượng theo đúng qui định: đó là bác sĩ đang công tác, sau khi học xong sẽ được cơ quan cũ nhận về. Tuy nhiên, cách này sẽ không có thạc sĩ trẻ.

Tốt nghiệp cao học được gọi là thạc sĩ (không đồng nhất với bằng thạc sĩ ngày xưa - tức bằng “sau tiến sĩ” của ngànhY của Pháp - mà thầy Đặng văn Chung và Vũ Công Hoè có được). Thời gian học cao học ở ngành Y dài gấp rưỡi các ngành khác: 3 năm thay vì 2 năm, nhưng bậc lương không hơn gì. Gần đây, theo đúng Luật Giáo dục, đào tạo thạc sĩ ngành Y cũng phải chấp hành rút xuống còn 2 năm: như vậy sẽ có hai khoá kế tiếp cùng ra trường một năm.

Do trách nhiệm cao với xã hội, ngành Y thường tự đặt quy định đào tạo dài ngày hơn so với các ngành khác; nhưng trách nhiệm với người học thì không cao như vậy; do đó lương của ngành Y dù học lâu hơn cũng không hơn gì.
Nhiều thầy, cô bắt đầu lo lắng chất lượng đào tạo cao học, nhất là khi chuyển sang đào tạo hai năm. Thời gian học các chứng chỉ rất gấp, thời gian học chuyên ngành bị hạn chế (ảnh hưởng tới năng lực hành nghề), luận văn hoàn thành cập rập và hầu hết phải kéo dài. Cũng giống nghiên cứu sinh, có hiện tượng trái ngược là số đề tài lâm sàng lại nhiều hơn số đề tài cơ sở (vì ở Việt Nam nghiên cứu trên bệnh nhân lại dễ dàng hơn nghiên cứu trên động vật). Chất lượng đề tài cũng thành vấn đề, vì đại đa số luận văn thạc sĩ không phát triển được thành luận án tiến sĩ, cũng như sau khi có bằng tiến sĩ thì rất nhiều người giảm, hoặc không còn nghiên cứu tiếp nữa. Tính đến 10-10-2002, có 1134 học viên cao học được nhận bằng thạc sỹ, trong đó 311 là chuẩn hoá từ bác sỹ nội trú, 832 đào tạo hệ tập trung. Hiện nay chúng ta đang tiếp tục đào tạo cho 601 cao học từ khoá 7 ( 1998 ) đến khoá 21 ( 2002 ).

Nội trú bệnh viện, bác sỹ chuyên khoa cấp 1 và 2

Đều tăng số lượng tuyển chọn. Trong năm học 1994-1995, trường đã tận dụng tối đa các chỉ tiêu đào tạo sau đại học của Bộ Giáo dục- Đào tạo và Bộ Y tế để đáp ứng nhu cầu cho cán bộ nhà trường và cán bộ địa phương. Bảo đảm nguyên tắc giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo phải được xuyên suốt các loại hình đào tạo để giữ vững truyền thống và uy tín khoa học của nhà trường.

Năm học 1997-1998, các đối tượng sau đại học (nội ngành và quốc gia) của trường lên tới 2132 học viên; năm sau đã là 2931 học viên...; từ đó số học viên cao học tương đương số sinh viên đại học. Ngoài các biện pháp nâng cao chất lượng luận án do bộ GD-ĐT ban hành (thêm phản biện, phản biện kín, quy cách viết luận án...) trường cũng có những biện pháp: đã định kỳ tổ chức các Hội nghị khoa học dành riêng cho nghiên cứu sinh (đến nay đã được 5 lần), nhờ vậy tiến độ hoàn thành luận án đã tăng hơn trước rất rõ rệt; đã tổ chức Hội nghị đào tạo sau đại học cho các thầy cô liên quan....

Đã tổ chức thành công Hội nghị Đào tạo sau đại học gồm Ban Chủ nhiệm và Giáo vụ SĐH của các bộ môn trong toàn trường để phổ biến toàn bộ chương trình của năm học và thực hiện qui chế mới của Bộ Giáo dục- Đào tạo về đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành thay cho đào tạo Phó tiến sĩ trước đây.
Công tác đào tạo cao học, BS nội trú và BS chuyên khoa cấp 1, 2 cũng được tăng cường và nâng lên một bước cả về chất lượng và số lượng. Đặc biệt đã mở rộng triển khai đào tạo các lớp BSCK1 hệ tại chức theo chứng chỉ tại các địa phương ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa gồm 8 tỉnh cho 7 chuyên ngành: Cao Bằng, Bệnh viện K71, Hải Dương, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Kiên Giang và Hà Nội. Và những năm sau là Quảng Ngãi, Phú Yên, Sóc Trang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ, Tiền Giang.

Với số lượng đào tạo ngày càng tăng, hình thức đào tạo phong phú hơn trước nhưng Nhà trường luôn cố gắng giữ vững và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo SĐH, đặc biệt là đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ. Đào tạo bác sĩ chuyên khoa được mở rộng ở nhiều địa phương trong cả nước.

Cho đến nay, ta đã đào tạo được 530 bác sỹ nội trú bệnh viện; 1499 BSCKCII; 6099 BSCKCI.

Đối với BSCKCII, có 686 người được đào tạo theo hệ đặc cách, 313 người được đào tạo theo hệ thi công nhận, 99 người được đào tạo theo chuyển đổi từ PTS sau 5 năm nhận bằng và 401 người theo hệ chính quy. Đang đào tạo232 người. Đối với BSNT bệnh viện, ta đã đào tạo được 530 và đang đào tạo cho 221 thuộc các khoá từ 23 đến 26. Đối với BSCKCI, chúng ta đã đào tạo được 6099 người, trong đó theo hệ đặc cách 1293 người, hệ tại chức ( quy chế cũ ), chứng chỉ ( quy chế mới ) 3674 người; hệ tập trung 1132 người. Hiện đang đào tạo 1776 người trong đó 622 theo hệ tập trung và 1154 theo hệ chứng chỉ. 33 địa phương đã hoặc đang được mở đào tạo hệ chứng chỉ tại chức gồm Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Sơn La, Lai Châu, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên, Lâm Đồng, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Biên Hoà. Việc mở đào tạo BSCKI hệ chứng chỉ tại các địa phương được lãnh đạo và cán bộ y tế địa phương hết sức hoan nghênh, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa vì những vùng này cán bộ y tế khó được đi đào tạo do thiếu người làm việc, do đắt đỏ ở thành phố. Đây chính là sự thể hiện rõ nét của một trường trọng điểm quốc gia thực hiện các chính sách đổi mới của Đảng.

Nghiên Cứu Khoa học

Từ khi có chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, cơ chế thị trường đã ít nhiều làm các thầy cô bỡ ngỡ ban đầu, nhưng một số nhà khoa học đã đăng ký được các đề tài lớn, có kinh phí, nhưng số này ở trường không nhiều vì phải là người có quyền lực hành chính trong khoa học, mặt khác, sự chuyển biến tư tưởng không kịp.

Trường ta có phần hẫng hụt ban đầu khi cơ chế cấp kinh phí nghiên cứu khoa học thay đổi (từ 1990), vì chuyển biến tư tưởng chậm, lãnh đạo kém nhạy bén, trang thiết bị nghèo nàn, ít thầy có quyền lực trong khoa học (viện trưởng). Vì vậy, những năm đó, đội ngũ đông đảo của trường bị lúng túng. Dẫu sao, với những công trình của cá nhân thực hiện trước đó cũng giúp trường ta trong đợt phong chức danh 1991-1992 có thêm gần 100 giáo sư, phó giáo sư. Xu hướng nghiên cứu rộng, tuy nhiều đề tài nhỏ, nhưng không sâu (kể cả hời hợt) đã xuất hiện. Chưa tái hiện được các nhà nghiên cứu tỉ mỉ, nghiêm túc, trân trở với những đề tài mình theo đuổi cả đời như các thầy trước đây (Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp, Trần Hữu Tước...).

Thư viện và thông tin

Thư viện được xây từ dịp kỷ niệm 90 năm đã tạo bộ mặt mới, cả về cảnh quan lẫn giá trị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu cho nhà trường.

Nguồn báo chí, sách giáo khoa, sách tham khảo với số lượng lớn (tới hàng chục tấn) lần đầu tiên nhận được từ trường Đại học New South Wales năm 1987-1988. Sau đó, trường Paris VI đã liên tục gửi, nhân danh Hội nghị Quốc tế các Hiệu trưởng Đại học Y nói tiếng Pháp (CIDMEF) mà trường ta là một thành viên. Theo dự định, thư viện trường sẽ nhận được - trong năm 1994 - các phương tiện tin học gồm máy vi tính (đã có 2 bộ), télécopie (Fax), các đĩa quang học. Mới đây, Nhật Bản còn cung cấp các phương tiện Nghe-Nhìn gồm đầu vi đê ô, TV, máy chiếu và nhiều bâng ghi hình giáo khoa. Như vậy, thư viện trường là nơi tiêu biểu nhất hiện nay cho hiệu quả của hợp tác quốc tế đa phương trên cơ sở cố gắng của chúng ta.

Rất kịp thời, trường đã cung cấp rộng rãi dịch vụ Internet cho các bộ môn, mở rộng đến các thầy cô; và đã có một trang WEB của trường trên mạng với nội dung ngày càng phong phú - mà bác sĩ Tuấn là người có công lớn.

Vấn đề còn lại là: 1) kinh phí để mở rộng và nâng cao trang Web này sao cho rộng rãi bạn đọc truy cập vào; 2) mở rộng lưới cộng tác viên; 3) tuyên truyền rộng rãi trước hết cho sinh viên và các thầy cô thường xuyên truy cập.

Cùng với thư viện, dịch vụ này đã chấm dứt vĩnh viễn tình trạng thiếu tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong hoàn thành luận án nói riêng.

Tuy nhiên, khi đủ tài liệu tham khảo thì lộ ra sự lạc hậu và sơ sài của nhiều đề tài, nhất là đề tài của nghiên cứu sinh. Lẽ ra phải tham khảo tạm đủ những tài liệu liên quan trực tiếp nhất trước khi đề xuất đề tài thì chúng ta lại làm ngược lại: cứ đề xuất đề tài (rất cảm tính), cứ tiến hành, khi sắp kết thúc mới tham khảo. Do vậy, rất nhiều kết luận mà đề tài dự tính đã được các tác giả thế giới kết luận từ rất lâu. Có ý kiến đề nghị: khi thông qua đề cương nghiên cứu sinh nhất thiết tác phải có sự tổng quan các tài liệu liên quan chặt chẽ nhất mà hội đồng chấp nhận. Nói khác, họ phải trả lời hai câu hỏi: “người ta” đã làm đến đâu; và “chúng tôi” dự định làm tiếp cái gì.

Những năm gần đây, thêm nhiều trung tâm nghiên cứu được thành lập, có tác dụng tăng thêm kinh phí hoạt động cho nhà trường và tạo việc làm cho một số cán bộ. Cụ thể, đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức C.H.R.U, lập các trung tâm nghiên cứu và đào tạo: HIV/AIDS, Dân số-KHHGĐ và SKSS, Hen phế quản, Loãng Xương, đơn vị nghiên cứu và đào tạo dịch tễ học lâm sàng, Bảo quản mô ... Hầu hết trung tâm đều hoạt động có hiệu quả (rất ít trung tâm hoạt động cầm chừng, thậm chí treo biển rồi đóng cửa).

Trong năm học 1994-1995, công tác NCKH được tiến hành theo các hướng chính sau và đã đạt được những kết quả:
- Đề tài Hằng số và môi trường, Sức khoẻ và mô hình bệnh tật.
- Các đề tài trong lĩnh vực ghép cơ quan.

Năm học 1995-1996, kinh phí cho nghiên cứu đã đạt 1,6 tỷ đồng từ các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước. Đó là con số lớn nhất từ trước đến thời điểm này.Từ đó, số đề tài và nguồn kinh phí nói chung tăng lên đều đặn hàng năm.

Năm sau (1996-1997), ngoài đề tài độc lập cấp nhà nước KYĐL 03-94 đạt kết quả nghiệm thu xuất sắc thì nổi bật là việc hoàn thành xây dựng, lắp đặt và bắt đầu đưa vào vận hành Labô Y sinh học trung tâm.

Theo đánh giá chung, đây là thành công bước đầu trong mô hình xây dựng trung tâm y tế chuyên sâu của nhà trường. Đây cũng là tiền đề vật chất để tiến hành các nghiên cứu khoa học, đào tạo sau đại học và hợp tác quốc tế. Đóng góp vào việc này, có công sức rất lớn của giáo sư Phan thị Phi Phi và một số thầy cô khác.

Trong năm học 1997-1998, nhờ tăng cường công tác tìm nguồn kinh phí cho NCKH, trường đã triển khai các đề tài thuộc tài khoá 1996-2000 khoa học công nghệ, trong đó có: 1 đề tài cấp nhà nước KHCN 11-02, 1 dự án cấp bộ, 5 đề mục thuộc đề tài cấp nhà nước, 15 đề tài cấp bộ, 59 đề tài cấp cơ sở (trong đó có 24 đề tài hướng dẫn sinh viên và 35 đề tài cơ sở của cán bộ). Trong hoạt động NCKH, số đề tài hướng dẫn sinh viên nghiên cứu đã dần dần tăng lên. Trong năm học này đã tổ chức thành công 13 Hội nghị khoa học Hội nghị khai trương Labo trung tâm Y sinh học.

Tuy nhiên, ngay từ giai đoạn này đã có những tín hiệu báo động sớm: nghiên cứu sinh chỉ cốt hoàn thành luận án để có học vị phó tiến sĩ (nay gọi là tiến sĩ) với mục đích thăng tiến bản thân, còn mục đích thăng tiến của xã hội thì bản thân họ, cũng như những người quản lý họ, không mấy quan tâm tới. Thành tích thật sự đào tạo các nhà khoa học không phải ở chỗ đã đào tạo được bao nhiêu người có bằng cấp, mà ở chỗ họ đã có bao nhiêu công trình sau khi được đào tạo. Nói cụ thể, mục đích đào tạo tiến sĩ là để họ trở thành nhà nghiên cứu, tức là sản xuất ra các công trình khoa học, thúc đẩy sự thăng tiến xã hội. Thực tế, số tiến sĩ sau khi được phát bằng còn kiên trì con đường nghiên cứu là rất hiếm. Kết quả thống kê (qua các cuốn danh mục công trình đã in) cho thấy số này dưới 20%, có người còn cho rằng dưới 10%.

Công tác NCKH năm học 1998-1999 tiếp tục tổ chức triển khai: 1 đề tài cấp nhà nước, 1 dự án cấp bộ, 15 đề tài cấp bộ, 43 đề tài cấp cơ sở, 21 đề tài hướng dẫn sinh viên NCKH, 2 đề tài tương đương cấp bộ phối hợp với đơn vị NCCS của Bộ Y tế và UBQGDS-KHHGĐ. Ngoài ra, còn nhiều đề tài nhánh của các bộ môn cộng tác nghiên cứu với các đơn vị bạn và các định hương trong nước và quốc tế.

Xuất bản đều đặn và đảm bảo chất lượng cuốn Kỷ yếu công trình và Tạp chí Nghiên cứu Y học.

Các trung tâm, các chương trình và dự án tiếp tục có những cố gắng để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần cùng nhà trường nâng cao hiệu quả đào tạo và NCKH, xây dựng cơ chế quản lý thống nhất các trung tâm đơn vị và các dự án hợp tác quốc tế trong tình hình mới.

Trong năm học 1999-2000, nhà trường tiếp tục cố gắng trong công tác NCKH: đã thực hiện và hoàn thành nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ và cấp cơ sở, trong đó có nhiều đề tài đã được nghiệm thu:

- Đề tài cấp nhà nước:
+ Đã nghiệm thu 6/6 đề mục, đang chuẩn bị nghiệm thu cấp cơ sở đề tài NCKH 11- 02 do PGS. Tôn Thất Bách làm chủ nhiệm.
+ Tổ chức triển khai 2 đề tài độc lập cấp nhà nước do GS Nguyễn Năng An và PGS. Phạm Thị Minh Đức làm chủ nhiệm.
+ Triển khai 5 đề tài nghiên cứu cơ bản.
+ Đưa vào kế hoạch được 2 đề tài cấp nhà nước về Dioxin cho giai đoạn 2000-2005.

- Đề tài cấp bộ:
+ Đã nghiệm thu cơ sở dự án cấp bộ do GS. Lê Nam Trà làm chủ nhiệm, đang hoàn chỉnh để tổ chức nghiệm thi chính thức.
+ Đã nghiệm thu hoàn chỉnh 8/18 đề tài cấp bộ; 2/18 đề tài nghiệm thu cơ sở; 8/18 đề tài còn lại sẽ nghiệm thu trong quý 4 năm 2000 (trong đó có 3 đề tài mới được duyệt năm 1999).
+ Đề tài thử nghiệm vòng tránh thai Tcu 380A của ấn độ, triển khai đúng tiến độ và kết thúc vào cuối năm 2000.

- Đề tài cơ sở và hướng dẫn sinh viên NCKH:
Tổ chức xét duyệt được 64 đề tài cho giai đoạn 2000-2001 với tổng kinh phí 216 triệu đồng.

- Đề tài hợp tác nghiên cứu:
+ Hoàn thành báo cáo nghiệm thu đề tài đánh giá những thay đổi của ngành y tế trong 10 năm đổi mới.
+ Phối hợp với Vụ Khoa học và Đào tạo Bộ Y tế triển khai đề tài đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học ngành y tế trong 10 năm đổi mới.
+ Ngoài ra, còn nhiều đề tài nhánh của các bộ môn công tác nghiên cứu với các đơn vị bạn và các địa phương trong nước và quốc tế.
+ Tiếp tục và hoàn thiện việc xuất bản đều đặn và đảm bảo chất lượng cuốn Kỷ yếu công trình và Tạp chí Nghiên cứu Y học...Năm học 2000-2001, kết quả nghiên cứu rất khả quan với tiến độ và chất lượng cao hơn năm trước.

- Đề tài cấp nhà nước:
+ Đã nghiệm thu cơ sở đề tài NCKH 11- 02.
+ Tổ chức triển khai 2 đề tài độc lập cấp nhà nước.
+ Triển khai 5 đề tài nghiên cứu thuộc dự án điều tra cơ bản.
+ 2 đề tài cấp nhà nước về Dĩoxin cho giai đoạn 2000- 2005 đã được phê duyệt và triển khai tại Đà Nẵng.
+ Hoàn thành giai đoạn 1 và chuẩn bị cho giai đoạn 2 dự án nâng cao năng lực Labô bảo quản tế bào.

- Đề tài cấp bộ:
+ Tiến hành nghiệm thu 1 đề tài cấp bộ.
+ Đã nghiệm thu xong 10 đề tài cấp bộ.
+ Dự án Quỹ gen y học đã triển khai có hiệu quả.

- Đề tài cơ sở và hướng dẫn sinh viên NCKH:
+ Tổ chức xét duyệt 64 đề tài cho giai đoạn 2000-2001 với tổng kinh phí 216 triệu, trong đó có 24 đề tài hướng dẫn cho sinh viên NCKH.

- Đề tài hợp tác nghiên cứu:
+ Tiếp tục triển khai giai đoạn cuối đề tài hợp đồng với UBQGDS-KHHGĐ, đã hoàn thành thủ tục để nghiệm thu chính thức. Tiếp tục xây dựng để triển khai giai đoạn 2 của đề tài.
+ Tiếp tục phối hợp với Vụ Khoa học và Đào tạo Bộ Y tế triển khai đề tài “Đánh giá hiệu qủa hoạt động nghiên cứu khoa học ngành y tế trong 10 năm đổi mới”, chuẩn bị cho Hội nhị tổng kết công tác NCKH của Bộ Y tế và xây dựng phương hướng nghiên cứu cho giai đoạn tới.
+ Ngoài ra, còn nhiều đề tài nhánh của các bộ môn cộng tác nghiên cứu với các đơn vị bạn và các địa phương trong nước và quốc tế.
+ Việc xuất bản Kỷ yếu công trình và Tạp chí Nghiên cứu Y học vẫn được tiến hành đều đặn và chất lượng ngày càng tốt hơn.

Quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế

Cho đến 1985, các quan hệ đối ngoại chủ yếu của trường chỉ đóng khung trong việc hợp tác với Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa cũ, chủ yếu là đào tạo sau đại học. Từ 1986, nhờ chủ trương đổi mới của Đảng, trường Y Hà Nội bắt đầu có những quan hệ hợp tác với các nước phương Tây và các nước trong khu vực, bắt đầu là Vương quốc Thụy Điển (từ sớm hơn, qua viện trợ thiết bị) và Cộng Hòa Pháp. Những năm gần đây, quan hệ đối ngoại ngày càng được mở rộng sang nhiều nước và khu vực khác, hình thức hợp tác cũng đa dạng hơn, gồm đào tạo dài hạn, đào tạo ngắn hạn, đào tạo lại, tham quan nghiên cứu, thực hiện các chương trình, hội nghị khoa học, v.v...

Cho tới nay, các thầy cô trường ta dễ dàng được ra ngoài và tiếp xúc với khoa học thế giới ngày càng nhiều. Phong trào học ngoại ngữ đương nhiên phát triển trong một số đối tượng mà chẳng cần ai động viên, kêu gọi, sắp xếp chương trình như trước đây. Một nguồn vốn quan trọng, nhờ mở rộng quan hệ mà có, là vốn tư liệu của thư viện. Từ chỗ khủng hoảng tài liệu tham khảo phục vụ các công trình nghiên cứu, đến nay nhà trường liên tục nhận được nguồn bổ sung từ Pháp, Nhật, Mỹ, Hà Lan và nhiều nước khác.

Đối ngoại

Quan hệ quốc tế của trường được mở rộng khi nước Việt Nam thống nhất được kết nạp vào Liên Hợp Quốc. Năm 1992 là một mốc phát triển; nhưng sự khởi sắc là giai đoạn sau đó. Trong năm 1993-1994, số lượng các đoàn quốc tế vào trường tăng lên rõ rệt và đã mang lại một số hiệu quả thiết thực.

- Đối với Pháp: Đã thống nhất về hình thức đào tạo và tuyển chọn bác sỹ nội trú bệnh viện ở Pháp trong 7 chuyên ngành: Nội, Ngoại,Gây mê hồi sức, Sản, Tai mũi họng, Nhi và Tâm thần. Hàng năm, Pháp cử 3 đoàn chuyên gia sang trường ta giảng dạy. Đối với Mỹ: Mặc dầu có rất nhiều đoàn vào nhưng hiệu quả chưa lớn trừ tổ chức Medical China Board đã tài trợ cho trường ta 120.000 USD để mua sắm thiết bị. Đối với Hà Lan, úc, Anh, Thuỵ Điển, Nhật Bản: Đó là những nước cũng có nhiều dự án nghiên cứu về gỉảng dạy Y tế cộng đồng. Riêng Hà Lan tổng kinh phí 4 triệu USD/năm cho các trường Đại học Y Hà Nội, Huế, Cần Thơ và TP.Hồ Chí Minh. Như vậy thông qua hợp tác quốc tế, trong năm học này số cán bộ của trường được cử đi học nước ngoài lên tới con số kỷ lục là 110 người.

Năm học1994-1995, trường tiếp tục giữ vững và đẩy mạnh các quan hệ hợp tác đã có với Pháp (đào tạo nội trú và học tiếng Pháp), với Hà lan (dự án tăng cường công tác giảng dạy và chăm sóc sức khoẻ ban đầu), với úc (dự án CIDSE CV777), với Anh (dự án cải cách công tác quản lý), và với Mỹ (dự án nâng cấp phương tiện giảng dạy với Medical China Board).

Ngoài ra, còn mở rộng thêm các quan hệ hợp tác quốc tế mới như: chuẩn bị tiếp nhận dự án JICA của Nhật Bản, chuẩn bị mở rộng hợp tác với Thuỵ Sĩ về đào tạo, với Mỹ (tổ chức REI), với Nhật Bản (quĩ Sasakawa) về chăm sóc sức khoẻ ban đầu, với Thuỵ Điển (trường đại học Karolinska) về hợp tác tại chỗ. Phối hợp với các nước tổ chức các hội nghị khoa học để qua đó đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học của cán bộ nhà trường đồng thời mang lại kinh phí không nhỏ để đầu tư trang thiết bị cho nhà trường.

Tất cả các quan hệ hợp tác đó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt khoa học của trường ta theo chiều hướng tốt đẹp.

Công tác quan hệ quốc tế năm học 1995-1996 với những yêu cầu chấp hành nghiêm chỉnh quy chế đối ngoại nhằm phát huy tối đa mở rộng hợp tác khoa học mang lại lợi ích cho nhà trường, cho các bộ môn, trên nguyên tắc không tư lợi để tránh các thế lực phản động quốc tế lợi dụng chính sách mở cửa để mua chuộc cán bộ, làm mất ổn định chính trị trong quá trình đổi mới. Công tác đối ngoại phải mang lại hiệu quả kinh tế.

Trong năm qua, thông qua hợp tác quốc tế, từ tháng 8/1994 đến tháng 12/1995 trường ta đã có 151 lượt cán bộ đi dự hội nghị, đi học tập tại nước ngoài, đồng thời do hợp tác quốc tế, trường ta đã có một dự án với 250 nghìn USD (tương đương 2,8 tỷ) và 298 triệu đồng do các hội nghị quốc tế mang lại không kể các dự án trước đây như dự án Hà Lan, dự án Quỹ cứu trợ Nhi đồng Anh, dự án của CMB. Cũng thông qua hợp tác quốc tế, tháng 11/1995 chúng ta đã xin được viện trợ thuốc men cho 4 cơ sở y tế (Bệnh viện Bạch mai, Bệnh viện TW Huế, Viện Tai Mũi Họng, Bệnh viện Việt Đức ) trị giá 2,5 triệu USD (tương đương 28 tỷ đồng).

Tiếp tục mở rộng hoạt động đối ngoại để tìm thêm kinh phí, hợp tác phát triển nhà trường, trong năm học 1996-1997, nhà trường đã tiếp nhận nhiều dự án lớn, từ Hà Lan, Nhật...

- Dự án Hà Lan hỗ trợ cho 4 trường đại học để đẩy mạnh công tác giảng dạy hướng về y tế cộng đồng. Bên cạnh đào tạo nhóm thành viên, việc lồng ghép dự án này vào trường nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các yêu cầu của gỉảng dạy theo phương pháp tích cực như viết tài liệu, tạo ra vật liệu giảng daỵ cũng như cung cấp kiến thức về dịch tễ học cho cán bộ giảng dạy là những trọng tâm của dự án.
- Dự án Sasakawa (Nhật Bản) nhằm hỗ trợ xây dựng thực địa cho sinh viên ở Kim Bảng trong đào tạo bác sĩ đa khoa định hướng cộng đồng. Dự án này còn bao hàm giúp đỡ đào tạo cho địa phương, xây dựng mô hình về mạng lưới y tế cơ sở, hỗ trợ trang thiết bị và thuốc thiết yếu cũng như quay vòng thuốc chữa bệnh...Vì vậy, bên cạnh việc xây dựng cơ sở thực địa, đây còn là một hoạt động mang tính chất nghiên cứu khoa học của trường cũng như thực hiện yêu cầu chỉ đạo tuyến huyện của Bộ Y tế đề ra đối với các đơn vị trực thuộc Bộ.
- Dự án CMB sau khi kết thúc giai đoạn 1 với kinh phí 210.000 USD, từ năm 1997 tổ chức này lại hỗ trợ cho trường 300.000 USD để bổ sung cho Labô tiền lâm sàng, khảo sát về việc nối mạng với khu vực.
- Đã hoàn thành với MDM một dự án nhằm hỗ trợ cho huyện Chợ Đồn về xây dựng cơ sở y tế ban đầu. Các dự án này một mặt giúp cho nhà trường nâng cấp điều kiện giảng dạy, đồng thời tạo điều kiện cho nhà trường gắn bó với xã hội nhiều hơn.
Ngoài ra, còn: thoả thuận với 2 trường Đại học của Pháp về nguyên tắc cơ bản trong hợp tác với các bộ môn Y học cơ sở, đó là Trường Đại học Paris XIII và Trường Đại học Lille; mở rộng hợp tác với tổ chức REI để tiếp nhận viện trợ và giáo viên tiếng Anh; hoàn thành thủ tục tiệp nhận một tài sản của nhà băng San Wa dành cho trường 318.000 USD theo di chúc của một khách hàng nhà băng là ông Henri Wilton.

Công tác đối ngoại hợp tác quốc tế năm học 1997-1998 đã đạt được những kết quả rất đáng phấn khởi:

- Nhà trường tiếp tục chương trình đào tạo Pháp - Việt, thực hiện cho 9 chuyên ngành để tuyển BS nội trú bệnh viện tại Cộng hòa Pháp.
- Hợp tác với Tổ chức Học đường không biên giới (ESF) của Pháp, mở lớp tiếng Pháp cho CBGD, BS nội trú, học viên cao học, sinh viên...
- Hợp tác với các tổ chức REI và GEMS mở các lớp tiếng Anh cho cán bộ nhà trường.
- Tham gia các hội nghị về chuyên môn khoa học và quản lý đào tạo của khu vực.
- Tổ chức 5 hội nghị khoa học chuyên ngành với Pháp tại trường, đặc biệt Hội nghị khoa học ngoại khoa được phía Pháp đánh giá cao về chất lượng khoa học và trình độ tổ chức.
- Kết hợp với 2 trường Đại học Y Nantes và Orléan mở lớp chuyên ngành Hồi sức cấp cứu.
- Do công tác tổ chức tiếp nhận và giảng dạy ngày càng đi vào nề nếp nên số lượng sinh viên nước ngoài: Pháp, úc, Anh (trong đó nhiều nhất là sinh viên Pháp) xin tới thực tập hè tại Việt Nam ngày càng đông.
- Tiếp tục triển khai dự án Sasakawa (Nhật Bản)
- Hợp tác với Hội Khe hở môi và vòm miệng Nhật Bản của Trường Đại học Aichigakuin, nhận viện trợ trang thiết bị cho Bộ môn Răng Hàm Mặt để nâng cao chất lượng trong điều trị và giảng dạy. Ngoài ra, nhà trường còn tiếp nhiều đoàn khách quốc tế đến thăm và tìm hiểu để hợp tác khoa học với trường. Tiếp tục chương trình đào tạo Pháp - Việt, nhà trường trong năm học 1998-1999 đã thực hiện cho 10 chuyên ngành để tuyển bác sỹ nội trú thực tập tại Cộng hòa Pháp.
- Các lớp tiếng Anh và tiếng Pháp vẫn tiếp tục được tổ chức nhờ những quan hệ quốc tế từ năm trước, thu hút được nhiều cán bộ giảng dạy, học viên sau đại học và sinh viên tham gia.
- Hợp tác với Hà Lan về nâng cao chất lượng đào tạo, đã kết thúc giai đoạn I với chi phí 400.000 USD. Hiện đang bước vào giai đoạn II với 8 trường/khoa Y trong cả nước và dự án đào tạo thạc sĩ Y tế công cộng với những hoạt động của nhiều khoa và bộ môn với kinh phí hỗ trợ là 2.348.000 USD.
- Hợp tác với Mỹ trong chương trình đào tạo bác sĩ gia đình với kinh phí dự kiến khoảng 1 triệu USD.
- Hợp tác với Nhật Bản với việc cử cán bộ đi học tập tại Nhật Bản và tiếp tục chương trình của Trường Đại học Aichigakuin viện trợ trang thiết bị giảng dạy cho bộ môn Răng Hàm Mặt để nâng cao chất lượng trong giảng dạy và điều trị.
- Hợp tác với úc: Trao đổi, đào tạo cán bộ giữa nhà trường và trường đại học Sydney. Đã cử một số cán bộ sang học tại úc và chuẩn bị tiếp nhận một số cán bộ sang công tác tại trường.
- Nhận 34 sinh viên nước ngoài sang thực tập hè tại Hà Nội, tổ chức cho sinh viên Pháp đi thăm, tặng quà, dụng cụ y tế cho Trung tâm y tế huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn). Ngoài ra, nhà trường còn đón tiếp nhiều đoàn khách quốc tế đến thăm và tìm hiểu để hợp tác với trường, mở ra nhiều cơ hội hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế trong lĩnh vực y tế và giáo dục trong thời gian tới. Phát huy những kết quả đạt được và vận dụng những thế mạnh của nhà trường trong công tác quan hệ quốc tế, trong năm học 1999-2000, trường ta tiếp tục mở rộng hợp tác khoa học.
- Hợp tác với Pháp trong chương trình FFI, đưa nhiều bác sỹ nội trú bệnh viện sang học tập tại Cộng hòa Pháp và đón 54 giáo sư Pháp sang giảng dạy ở nước ta. Chương trình nghiên cứu với Viện trường Nantes của Pháp về Cyclopora, chương trình hợp tác về chẩn đoán bằng hình ảnh, cấp cứu nội kho và ngoại khoa...
- Tham gia nhiều hội nghị về chuyên môn khoa học và quản lý đào tạo của khu vực.
- Tiếp tục hợp tác với Hà Lan về nâng cao chất lượng đào tạo. Hiện đang bước vào giai đoạn II hỗ trợ đào tạo thạc sĩ Y tế công cộng với những hoạt động phong phú của nhiều khoa và bộ môn với kinh phí hỗ trợ là 2.348.000 USD.
- Hợp tác với Mỹ, Nhật Bản và úc trong các chương trình hợp tác khoa học đã tiến hành từ năm trước.
- Ngoài ra, trong năm học này nhiều đoàn quốc tế đã đến thăm và tìm hiểu để hợp tác khoa học với trường ta, nhiều cơ hội quan hệ với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực y tế và giáo dục tiếp tục được mở ra, hứa hẹn một khả năng hợp tác to lớn trong thời gian tới.

Trong năm học 2000-2001, nhà trường tiếp tục hợp tác với Pháp trong chương trình FFI, đưa hơn 40 bác sỹ nội trú sang học tập tại Pháp, đồng thời tiệp nhận 70 sinh viên Pháp sang học tập tại trường. Chương trình nghiên cứu với Viện trường Nantes của Pháp về Cyclopora, chương trình hợp tác về chẩn đoán hình ảnh, cấp cứu nội, ngoại khoa...vẫn tiếp tục được tiến hành với những kết quả rất khả quan.

Dự án hợp tác với Hà Lan về nâng cao chất lượng đào tạo, hiện đang bước vào giai đoạn II và đang tiếp tục hoạt động với kinh phí hỗ trợ là 2.340.000 USD.

Hợp tác với Hoa Kỳ trong chương trình đào tạo bác sĩ gia đình với kinh phí dự kiến 1 triệu USD. Đợt I đã nhận 300.000 USD là viện trợ của tổ chức CMB (China Medical Board ) và nhận từ tổ chức “ Từ trái tim đến trái tim” (Heart to Heart) thuốc men, trang bị trị giá 4 triệu USD theo giá phía viện trợ thông báo, hơn 1 triệu USD theo giá thẩm định của nhà trường.

Trong việc hợp tác với Nhật Bản, nhà trường đã cử nhiều cán bộ đi học tập tại nước bạn và thông qua chương trình của Trường Đại học Aichigakuin, Nhật bản tiếp tục viện trợ trang thiết bị cho khoa Răng Hàm Mặt để nâng cao chất lượng điều trị và giảng dạy. Chương trình hợp tác với bệnh viện Miako đã cử người sang Nhật Bản học và chuẩn bị cho bệnh viện Miako - Việt Nam hoạt động.

Trao đổi, đào tạo cán bộ giữa nhà trường và các trường đại học của úc, đã cử một số cán bộ sang học tập tại úc và chuẩn bị đón nhận một số cán bộ và sinh viên úc sang công tác và thực tập tại trường.

Cũng trong năm học này, trường ta tiếp nhận sinh viên từ nhiều nước trên thế giới sang thực tập tại trường như: Pháp, Bỉ, Anh quốc....

Tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực, đặc biệt là Thai Lan, Philippin, Singapore, cử cán bộ nhà trường sang học tập tại các nước trong khu vực. Tổ chức các đoàn thăm quan và làm việc về công tác đào tạo cao học tại các nước trên.

Ngoài ra, nhà trường còn tiếp đón hơn 100 đoàn khách quốc tế đến thăm và tìm hiểu để hợp tác với trường, mở ra nhiều cơ hội hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế trong lĩnh vực y tế và giáo dục trong thời gian trước mắt và sau này.

Xây dựng cơ sở vật chất

Thập kỷ 80, việc xây dựng cơ sở vật chất của trường dường như đình trệ, sau đó có khá hơn. Tuy nhiên, dịp kỷ niệm 90 năm thành lập trường, báo chí vẫn rất ngạc nhiên khi thấy sau 30 năm mà một trường trọng điểm quốc gia chưa xây dựng xong cơ sở hạ tầng theo thiết kế từ thập niên 60.

Từ năm học 1993-1994, tiến độ và chất lượng xây dựng đều cao hơn hẳn giai đoạn trước. Khu Khương Thượng của trường đã hình thành hai khu riêng biệt: khu làm việc và khu nhà ở (sinh viên và gia đình viên chức), chấm dứt tình trạng lẫn lộn kéo dài suốt hơn 30 năm. Khu vực Lê thánh Tông và viện Giải phẫu đều có sự chỉnh trang theo nhu cầu. Đã cải tạo và nâng cấp nhà E5, B1, E1, E2. Khu giảng đường mới (B3) đã hoàn thành, đảm bảo đủ chỗ học cho mọi đối tượng, với trang bị nghe nhìn đầy đủ - sẽ tạo điều kiện thuận lợi áp dụng phương pháp Dạy-Học tích cực (dạy nhóm nhỏ).

Các điều kiện ăn, ở, sinh hoạt của sinh viên đã được cải thiện một bước lớn - và càng lớn nếu họ hỏi lại các thế hệ cha anh đã sống thế nào ở ký túc xá hồi chống Mỹ, bao cấp và giai đoạn đất nước suy thoái sau 1975.

Nhà ăn và CLB sinh viên đã đủ sức thu hút các bạn trẻ. Điều thú vị là nhiều đám cưới trong và ngoài trường đã được tổ chức ở đây, kể cả khâu dặt tiệc.

Về xây dựng, nâng cấp ký túc xá, nhà ăn và tạo nhiều tiện nghi sinh hoạt khác cho sinh viên một mặt là do có kinh phí nhưng mặt quan trọng hơn là xuất phát từ quan điểm nếu sinh viên được tôn trọng, chăm sóc, thương yêu thì họ sẽ trở thành những người yêu trường, yêu kính thầy cô và có lòng nhân ái hơn - và đó là nền tảng của y đức theo quan hệ nhân quả. Sự “hạch toán” theo quan điểm thủ lợi với sinh viên sẽ tạo cho họ tư tưởng sẽ “hạch toán” lại với cộng đồng và bệnh nhân mà họ sẽ phục vụ sau này.

Vài nét về đời sống

Lương của trí thức cao cấp ngành Y vẫn không thể đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần - đang tăng lên rất cao - khi đất nước bước vào thế kỷ XXI; do vậy các viên chức khác của trường càng gặp nhiều khó khăn. Công tác đời sống vẫn là mối quan tâm của các nhà quản lý cũng như của toàn trường.

- Xưởng sản xuất thuốc Philatốp sau một thời gian phát huy tác dụng rất đáng kể, nay đến lúc sản phẩm khó tiêu thụ (tác dụng tâm lý nhiều hơn tác dụng thực có); mặt khác, trường đại học Y có một xưởng sản xuất kinh doanh là điều không phù hợp với cơ chế mới. Sau khi chuyển xưởng ra khỏi trường, cần phải mở dụng các nguồn thu khác và tìm nguồn thu mới. Khu lớp học hồi chống Mỹ (nhà cấp 4) không còn thích hợp với trường, nhưng lại thích hợp với trường Đông Đô, do vậy sự hợp tác hai bên đều có lợi đã đưa lại cho trường khoản tiến đáng kể trong thời gian vài năm qua. Trường cũng tổ chức các dịch vụ mới như gửi xe qua đêm, khoán trông xe hàng ngày... Nhưng đáng kể nhất là tổ chức dịch vụ khám chữa bệnh, vừa phục vụ xã hội với trình độ và thái độ đều cao, vừa phù hợp với nghề nghiệp đặc trưng của thầy và trò.

Nhờ vậy, trường vẫn giữ vững trong nhiều năm mức thu phúc lợi để chia tặng cho thầy cô và viên chức toàn trường, vào các dịp lễ lớn.

Các chăm sóc về đời sống tinh thần như hiếu hỷ, thăm hỏi ốm đau, kể cả với cán bộ nghỉ hưu vẫn được duy trì thường xuyên và chu đáo.

Dịp kỷ niệm 90 năm thành lập trường và 50 năm trường phục vụ cách mạng các cụ về hưu khi về họp, được đối xử ân cần, đã rất xúc động và vui mừng khi thấy sự phát triển của trường. Dịp tết nguyên đán, ngoài họp mặt chung do trường đón tiếp và chúc tế, từng đơn vị đã mời các cụ về họp mặt thân mật và nói về những thay đổi đáng mừng trong năm qua. Năm 2002, vẫn như các năm trước, trường cấp xe xăng và xe cho các cụ tổ chức đi nghỉ mát ở Sầm Sơn.

Đời sống sinh viên cũng được quan tâm đúng mức: nơi ăn ở, điện nước, sinh hoạt, câu lạc bộ, thể thao vui chơi giải trí đã thu hút ngày càng nhiều sinh viên. Cảnh quan trường ngày một khang trang và sạch đẹp cũng góp phần nâng cao lòng yêu trường của thâỳ trò.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU

(a, b, c)
* Bibliographie des Thèses de Médecine - Université de Saigon - 1972
* Các văn bản của trường và văn bản gửi đến trường (từ thời Pháp thuộc, thời kháng chiến chống Pháp và gần đây: bản photocopy lưu ở Ban Tư liệu - Lịch Sử trường Đại Học Y Hà Nội)
*Các văn bản khai thác ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia (bản photocopy lu ở Ban Tư liệu - Lịch Sử, trường Đại Học Y Hà Nội)
* Đinh Xuân Lâm (chủ biên), và nhiều tác giả. Đại học tổng hợp (lược sử), 1991.
* (Henri Galliard: Yersin và việc thành lập trường Y Hà Nội - Kỷ yếu trường Đại học Y Dược khoa Đông Dơng, Hà Nội.- Tập 9.- 1944, tr 1).
* Hồi ký viết tay và phỏng vấn ghi âm của các thầy trường Y (Hồ Đắc Di, Vũ Công Hoè, Vưu Hữu Chánh): Đặng Vũ Viêm và Trương Văn Hợi thực hiện
* Hồi ký viết tay và phỏng vấn ghi âm của các vị cựu sinh viên Y và Dược thời kỳ chống Pháp (Nguyễn Xuân Ty, Nguyễn Dương Quang, Nguyễn văn Nhân, Nguyễn văn Âu, Nguyễn Bửu Triều, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Hữu Thiệu, Nguyễn Văn Bảy..., từ khoá vào trường năm 1943 đến 1952).
* Hồi ký viết tay của các vị cựu sinh viên Nguyễn Văn Vân, Đặng Kim Châu, Nguyễn Thường Xuân, Nguyễn Như Bằng, Đỗ Bá Hiển
* Lamb H.B.: The Vietnam's will to live.- Ncew York, 1972
* Lê Văn Khải. Truyện y sỹ, Truyện y khoa (hồi ký) 1971
* Nguyễn Dương Quang và cộng sự. Sơ lược lịch sử 90 năm Bệnh viện Hữu nghị Việt-Đức Hà Nội. Nhà Xuất bản Y Học, 1996.
*Nguyễn Bắc. Giữa thành phố bị chiếm - Nhà xuất bản Hà Nội 1994
* Nguyễn Ngọc Lanh, Trương Văn Hợi, Đặng Vũ Viêm. Sơ thảo lịch sử 50 đại học Y khoa Hà Nội (1945-1995; lưu hành nội bộ).
* Nhiều tác giả. Các sách về Cuộc đời và sự nghiệp (các vị: Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp). Nhà xuất bản Y học. 1999 -2000
* Nhiều tác giả. Sơ lược lịch sử y tế Việt Nam - Nhà xuất bản Y học - 1999
* Nhiều tác giả. 45 năm phục vụ chiến đấu xây dựng và trưởng thành - Quân Y Viện 103
* Nhiều tác giả. Alexandre Yersin: Un demi-siècle au Vietnam. Hanoi (seminaire sur A. Yersin, Nha Trang ), 1992.
* Nhiều tác giả. Sơ thảo lịch sử trường Đại học Dược khoa.
* Phỏng vấn ghi âm nhóm cựu sinh viên kháng chiến năm 1950 - 1954 (Trần Quán Anh thực hiện)
*Tôn Thất Tùng (Hồi ký). Đường vào khoa học của tôi. NXB Thanh Niên, 1973)
* Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương - L'Ecole de plein exercice de Médecine et de Pharmacie de l'Indochine.- Nha Học chính Đông Dương xuất bản.- Hà Nội, 1931)
* Tạp chí hàng năm của trường Đại học Y Dược (Annales các năm 1940-1944)
* Tôn Thất Tùng, cuộc đời và sự nghiệp - NXB Y Học, 1997).
* Việt Nam Dân Quốc Công Báo (tiếng Việt, các số 1945 và 1946) và Journal officiel de l’ Indochine francaise (các số 1902, và các số sau đó)
* Võ Nguyên Giáp. Chiến đấu trong vòng vây. NXB QĐND, 1998

 

Ban lịch sử Đại học Y Hà Nội
10/1/2003


Network Center, Hanoi Medical University.
Copyright 2001 HMU. All rights reserved.