Chi tiết ấn phẩm: Nhận con nuôi Việt Nam - Về nhóm ấn phẩm


      

LỜI NÓI ĐẦU

 


Đánh giá này do Hervé Boéchat, Nigel Cantwell và Mia Dambach của Tố chức Dịch vụ Xã hội Quốc tế (ISS) tiến hành. Đây là đánh giá độc lập được Cơ quan UNICEF tại HàNội, và Cục Con Nuôi Bộ Tư pháp Việt Nam đồng ý để Cơ quan ISS thực hiện.

Mục đích của đánh giá được tóm tắt như sau:

   Xác định và nêu những vấn đề liên quan đến quy trình nhận con nuôi trong nước và nước ngoài, nhằm mục đích hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong quá trình chuấn bị tham gia Công ước Lahay 1993 ve Nuôi con nuôi quốc tế (dưới đây gọi tắt là THC- 93);

   Xem xét dự thảo Luật Nuôi Con nuôi mới và đưa ra đe xuất thay đối cần thiết đe thực hiện tốt và phù hợp với chuấn mực quốc tế.

Đen nay, ngoài việc rà soát các tư liệu có sẵn, Nhóm chuyên gia đã sang Việt Nam từ ngày 4 đến ngày 13/5/2009. Trong thời gian đó Đoàn đã thảo luận với các bên hữu quan, cụ thế: Cục Con nuôi và các cơ quan địa phương, đại diện Chính phủ nước ngoài, các to chức phi chính phủ và các to chức con nuôi được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Đoàn đã có các chuyến công tác tại tỉnh Bắc Kạn và Vũng Tàu và một số trung tâm nuôi dạy trẻ tại TP Hà Nội. Trong các đợt khảo sát và thảo luận, đều có sự tham gia của đại diện Cục Con nuôi và Cơ quan UNICEF.

Sau khi thực hiện các phần việc trên, Báo cáo sơ bộ đã được nộp cho UNICEF và Bộ Tư pháp vào tháng 6/2009. Sau đó, Bộ Tư pháp đã gửi Báo cáo này đe xin ý kiến nhận xét của các cơ quan, đơn vị của Việt Nam (ở cấp Trung ương và địa phương) tại những nơi mà Nhóm chuyên gia đã tiến hành khảo, cũng như các Đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội mà Nhóm chuyên gia đã liên hệ. Trong khi đó, Nhóm chuyên gia của ISS vẫn tiếp tục tiến hành nghiên cứu thêm. Nội dung dự thảo Báo cáo đã được trình bày và thảo luận tại hội thảo do Cục Con nuôi Bộ Tư pháp phối hợp với UNICEF tổ chức tại Hà Nội ngày 18/9/2009. Trong quá trình hoàn thiện Báo cáo, Nhóm chuyên gia đã nghiên cứu những yêu cầu, đe nghị và dữ liệu bo sung được thông qua Hội thảo này.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nêu trên, chúng tôi đã dành trọng tâm ưu tiên cho vấn đe con nuôi quốc tế, trên cơ sở mục tiêu chính của chúng ta là hướng tới tham gia Công ước Lahay. Báo cáo này được the hiện theo trọng tâm ưu tiên đó.

Đồng thời, chúng tôi cũng đã có những quan tâm đáng kể đến vấn đề nhận con nuôi trong nước - và tình hình phúc lợi trẻ em và bảo vệ trẻ em trên bình diện rộng hơn - đặc biệt là từ góc độ những tác động trực tiếp và gián tiếp đối với nuôi con nuôi quốc tế.

Riêng về Dự thảo Luật Nuôi con nuôi, chúng tôi đã có rất nhiều buổi thảo luận hiệu quả với To Biên tập dự thảo Luật. Theo yêu cầu của Cục Con nuôi Bộ Tư pháp, trong thời gian công tác tại Hà Nội (ngày 12/5), chúng tôi đã đưa ra một bản đánh giá rất dài ve dự thảo luật này. Đen tháng 9, dự thảo luật đã được chỉnh sửa đáng ke, trên cơ sở cân nhắc những đe xuất của chúng tôi cùng nhiều yếu tố khác. Một lần nữa, theo đe nghị của Cục Con nuôi Bộ Tư pháp, chúng tôi lại đưa ra những ý kiến nhận xét sâu hơn ve bản dự thảo mới (Dự thảo 5) vào ngày 25/9. Như đã thống nhất với Cục Con nuôi Bộ Tư pháp, do quá trình chỉnh sửa dự thảo Luật vẫn còn tiếp diễn, những ý kiến nhận xét của chúng tôi đối với dự thảo này ở các thời điếm khác nhau không đưa vào phần Phụ lục của Báo cáo.

Trước khi bắt tay vào công việc, các bên đã nhất trí rằng Báo cáo đánh giá này sẽ dựa trên quan điếm nhìn ve phía trước. Vì vậy, mục đích của việc đánh giá không phải là điều tra những vấn đe đã qua mà là xem xét bất kỳ vấn đe gì liên quan đến quy trình hiện tại hoặc gần đây nhằm tìm ra cách đe giải quyết một cách có hiệu quả trong tương lai. Trên quan điếm đó, những vấn đe đã được tìm ra sẽ được nêu và phân tích trong Báo cáo này.

Các thành viên trong đoàn đánh giá cũng đã làm việc trên cơ sở nhận thức rằng trách nhiệm đảm bảo quy trình nhận con nuôi quốc tế một cách phù hợp, xét ve chính bản chất của hoạt động này, không chỉ thuộc ve các quốc gia cho con nuôi mà còn cần có sự cam kết đầy đủ và tích cực từ các cơ quan hữu quan và các cơ quan con nuôi của nước nhận nuôi. Dựa trên kết quả đánh giá, Báo cáo đưa ra đe xuất cho cả Chính phủ Việt Nam, Chính phủ các nước và các to chức con nuôi.

Trong khi tiến hành đánh giá, chúng tôi tập trung vào những vấn đề thông dụng nhất với hệ thống con nuôi của Việt Nam. Do tính chất phức tạp của vấn đe, do không đủ chức năng và hạn chế ve nguồn lực, nên chúng tôi không the đe cập được mọi vấn đe theo mong muốn của mình chang hạn như hai hệ thống cùng áp dụng đối với trẻ thừa nhận/ vô thừa nhận tại thời điếm tiến hành nghiên cứu, đặc điếm cụ the của con nuôi trong nước (ví dụ: nhận con nuôi “thực tế”, nhận con nuôi trọn vẹn và nhận con nuôi đơn giản) và những vấn đe liên quan đến buôn bán trẻ em.

Nghiên cứu đánh giá của chúng tôi được tiến hành một cách hệ thống, dựa trên các chuấn mực quốc tế phù hợp, đặc biệt phải ke đến Công ước Liên Hợp Quốc (LHQ) ve Quyền Trẻ em và Công ước Lahay. Neu chúng tôi có bất cứ định kiến gì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này thì định kiến đó cũng chỉ là ủng hộ việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền trẻ em đã được công nhận trên khắp thế giới. Chúng tôi phải công nhận rằng không phải lúc nào chúng tôi cũng có được những dữ liệu cần thiết, và chúng tôi cũng không the đi hết cả chiều dài và chiều rộng của Việt Nam đe thu thập thông tin và tham khảo ý kiến của tất cả các to chức, cá nhân có liên quan. Hơn thế nữa, trong giới hạn quyền hạn của mình, không phải lúc nào chúng tôi cũng có the xác minh và kiếm tra chéo các thông tin thu được một cách có hệ thống, nhưng chúng tôi đã cố gang hết mình đe phản ánh những gì mà chúng tôi cho rằng “chân thực” nhất. Chúng tôi đặc biệt biết ơn những người đã giúp chỉ ra những lồi dữ liệu thực tế trong Báo cáo ban đầu của chúng tôi, và qua đó hy vọng rằng trong phạm vi có the, Báo cáo đã được chỉnh sửa này có ít lồi như vậy nhất

Cuối cùng, chúng tôi nhận thức rõ rằng Báo cáo của chúng tôi không nhất thiết đem lại cảm giác dễ chịu cho người đọc là những người có liên quan đến vấn đe cho, nhận con nuôi trong và ngoài Việt Nam, dù cho đó là các cơ quan Chính phủ, hoặc ở một chừng mực nào đó, là các cha mẹ nuôi tiềm năng và trẻ em Việt Nam đã được cho làm con nuôi. Tuy nhiên, khi chúng tôi chuấn bị nộp Báo cáo cuối cùng này thì hệ thống tư pháp của Việt Nam (Tòa án Nhân dân tỉnh Nam Định) vừa mới kết án 16 người do đã nhận hối lộ đe làm giả giấy tờ cho 266 trẻ em Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2008 nhằm đáp ứng nhu cầu con nuôi của người nước ngoài. Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam công nhận sự tồn tại của vấn đe này và the hiện quyết tâm giải quyết nó. Tuy nhiên, những sự thật được hé lộ qua vụ việc này cung cấp thêm những bằng chứng rất kịp thời, cho thấy các vấn đe chúng ta nêu lên cần tiếp tục tìm cách giải quyết - cả ở trong và ngoài Việt Nam - nếu như chúng ta muốn việc người nước ngoài nhận nuôi con nuôi Việt Nam, trên cơ sở tôn trọng đầy đủ quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi, và thực hiện vai trò theo luật pháp quốc tế.

 

 

MỤC LỤC:

1. Bối cảnh nuôi con nuôi tại Việt Nam

1.1. Thực trạng nuôi con nuôi quốc tế hiện nay

1.2. Khái quát tình hình nuôi con nuôi tại Việt Nam

2. Những lĩnh vực chính liên quan đến các hình thức chăm sóc thay thế tại

16

2.1. Tách khỏi cha mẹ và gia đình

2.1.1 Nguyên nhân tách rời khỏi gia đình và cha mẹ

2.1.2. Các hình thức tách rời khỏi cha mẹ

2.1.3. Anh hưởng của việc nhận nuôi khi trẻ bị tách khỏi gia đình

2.2. Con nuôi và hệ thống chăm sóc thay thế

2.2.1 Tổng quan về hệ thống chăm sóc thay thế

2.2.2 Vị trí của nhận con nuôi trong hệ thống chăm sóc thay thế

3. Những vấn đề chính liên quan đến con nuôi tại Việt Nam

3.1. Quyết định nhu cầu, tính pháp lý của việc nhận nuôi một đứa trẻ

3.1.1. Điều tra nguồn gốc và thực trạng trẻ

3.1.2. Thủ tục đồng ý cho con nuôi

3.1.3. Trách nhiệm của việc công bố đứa trẻ được cho làm “con nuôi”

3.2. Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

3.2.1. Thủ tục và cách thức hiện thời

3.2.2. Khuyến khích nuôi con nuôi trong nước

3.2.3. Con nuôi trong nước và tuân thủ “nguyên tắc phụ trợ”

3.3. Giới thiệu

3.3.1. Thủ tục giới thiệu con nuôi trong nước

3.3.2. Thủ tục giới thiệu nuôi con nuôi quốc tế

3.4. Ra quyết định về việc nhận nuôi

3.4.1 Hệ thống phân cấp

3.4.2 Thiếu nguồn lực cho Cơ quan Quản lý Con nuôi cấp Trung ương

3.4.3 Phân tán trách nhiệm

3.4.4 Giám đốc các cơ sở nuôi dưỡng

4. Đặc điểm của con nuôi Việt Nam được nước ngoài nhận nuôi

4.1 Tuối của trẻ được nước ngoài nhận nuôi

4.2 Nhận nuôi trẻ lớn tuổi hơn

4.3 Nhận nuôi trẻ khuyết tật

4.4 Nhận nuôi trẻ là người dân tộc thiểu số

4.5 Đáp ứng những kỳ vọng của cha mẹ nuôi?

5. Ảnh hưởng của nhân tố nước ngoài trong việc nhận con nuôi

5.1 Chính phủ và quản lý cấp Trung ương của nước nhận con nuôi

5.1.1. Xây dựng cơ chế nuôi con nuôi quốc tế

5.1.2. Điều phối giữa các “nước nhận nuôi”

5.1.3 Thoả thuận song phương

5.1.4. Giám sát ve con nuôi đối với các nước nhận nuôi

5.2 Các cơ quan con nuôi

5.2.1. Cấp phép hoạt động và giám sát

5.2.2. Anh hưởng đối với chính sách nuôi con nuôi quốc tế

5.2.3 Anh hưởng tài chính

5.3. Các câu hỏi ve tài chính

5.3.1. Chiphívàphí

5.3.2. Các yêu cầu “Viện trợ nhân đạo”

ó.vấnđề pháplý

6.1. ĐỒ xuất liên quan đến quy định của To chức

6.2. Gia nhập và thực hiện Công ước Lahay

6.2.1. Thời gian gia nhập và cải cách pháp lý 66

6.2.2. Vai trò và trách nhiệm của Cơ quan Trung ương theo quy định của

Công ước Lahay

7. Những đề xuất chính

7.1. Đối với các cơ quan hữu quan của Việt nam

7.2. Đối với các cơ quan ở nước ngoài

7.3. Đối với các cơ quan con nuôi

7.4. Đối với các to chức chính phủ ở nước ngoài

Phụ lục 1: Danh sách những người đã gặp

Phụ lục 2: Thủ tục nhận nuôi nước ngoài với trẻ vô thừa nhận

Phụ lục 3: Đe xuất của ISS về các quy định đối với tổ chức nuôi con nuôi quốc tế tại VN