Giải thưởng Nobel Sinh lý hay Y học năm 2010 (lần thứ 101) Robert G. Edwards do ông đã hoàn chỉnh phương pháp thụ tinh in vitro IVF (trong ống nghiệm) ở người (26-10-2010)
Ngày 4 tháng 10 2010 vừa qua Viện Karolinska Thuy Điển đó công bố người được giải thưởng Nobel Sinh lý hay Y học năm 2010

Ngày 4 tháng 10 2010 vừa qua Viện Karolinska Thuy Điển đó công bố người được giải thưởng Nobel Sinh lý hay Y học năm 2010 tức lần thứ 101, là ông Robert G. Edwards người Anh do đã thành công trong gây được thụ tinh in vitro ở người IVF (InVitro Fertilizationtức trong ống nghiệm).
GS. Robert G. Edwards
Robert G. Edwards sinh ngày 27 tháng 9 năm 1925 tại Batley, Vương quốc Anh. Hoc ở Manchester, vào quân đội Hoàng gia lúc cuối Thế chiến thứ II, giải ngũ năm 1949, ông vào Đại học Nông nghiêp xứ Wales ở Bangor nhưng sau 2 năm thấy không thích hợp nên chuyển sang làm nghiên cứu sinh ở Đại học Edinburg tại xứ Êcốt học về Động vật học và rất thích thú môn Gen học. Do có khó khăn về tài chính nên đã cùng vợ là Ruth Fowler cũng là nghiên cứu sinh, nhận làm việc tại phòng thí nghiệm có tên là Nhà Chuột (Mouse House) vì đó là nơi nuôi và tiến hành thí nghiệm với đủ các loại chuột khác nhau và hai người chuyên tâm nghiên cứu về chu trình chửa đẻ, bào thai học chuột, quá trình thụ tinh, cũng như thử tác dụng godanotrophin, một loại thuốc kích thích sinh trưởng trứng ở chuột. Với thí nghiệm sau này sau khi chuột cái được kích thích, ông cho giao phối với chuột đực và thu được nhiều bào thai rồi mới chuyển vào tử cung chuột cái đã được kích thích, kết quả là vẫn có đã được nhiều chuột con bình thường. Năm 1955 ông làm luận án tiến sĩ về “Sự phát triển bào thai ở chuột” tại Edinburg. Chính những thử nghiệm thụ tinh trong ống nghiệm ở chuột là cơ sở để sau này ông nghiên cứu trên người. Năm 1957 ông sang bổ túc tại Viên Kỹ thuật California CALTEC và 1958 ông chuyển về Viên quốc gia nghiên cứu y học ở Luân đôn rồi về Đại học Cambridge, kể từ khi ấy ông mới bắt đầu công cuộc nghiên cứu thụ tinh trên người.
Động cơ làm ông chuyển đối tương nghiên cứu là do ông nhân thấy tình trạng thiếu thốn tình cảm khi không có con ở cặp vợ chồng người bạn đối với 2 đứa con gái sinh sắn của vợ chồng ông mỗi khi họ đến chơi. Như đã thí nghiệm với chuột ông có ý định nghiên cứu thụ tinh trên người. Ông đã gập rất nhiều khó khăn vì nơi hai vợ chồng ông đang làm việc tại Đại học Cambridge là một phòng thí nghiệm trống trơn, không có cả nước máy thông thường. Quá trình thực hiện ý đồ của ông có thể chia ra làm hai giai đoạn:
Trước tiên khó nhất là làm sao có được trứng của người và sử lý cho đúng lúc nó có thể thụ tinh được. Với quyết tâm, ông đã thuyết phục được Molly Rose, bác sĩ sản khoa trước đây đỡ cho con ông, cung cấp mảnh mô buồng trứng lấy từ người để ông thử nuôi và thụ tinh như đã làm với chuột. Theo Pincus và Saunders thử trên trứng thỏ và người thì sau khi lấy khỏi nang chỉ cần nuôi trong 12 giờ với thêm hormon cần thiết là có thể thụ tinh được. Nhưng đó là không đúng với người và ông đã mất gần hai năm thử trên trứng của nhiều động vật khác mới thấy thời gian này thay đổi theo tuỳ loài và riêng với người ông phải để đến 25 giờ mới thấy trứng được thụ tinh nuôi invitro xuất hiện lưỡng cực (diakinesis), giao thoa. Sai lầm của Pincus là đã dừng ở giai đoạn gián phân 1 của trứng, khi ấy cũng có xuất hiện lưỡng cực. Năm 1965 ông có được bài báo đầu tiên về quá trình chín và thụ tinh trứng người in vitro đăng trên báo Nature. Như thế cũng đủ dấy lên một loạt các bài báo công kích công việc ông làm nhân danh đạo đức y học.
a) bước đầu thụ tinh in vitro cho thấy tinh trùng tiếp cận trứng; b) phôi dâu với 4-8 nhân; c) một phôi bào ngày thứ 9 với đĩa phôI rõ ràng
Sang giai đoạn áp dụng trên người khó lắm ông mới tìm được người cộng tác thích hợp. Năm 1968 tức phải đến 6 năm sau, qua báo chí, ông mới tìm được người đồng ý cộng tác nghiên cứu thụ tinh trong ống nghiệm. Đó là nhà sản khoa có tuổi Patrick Steptoe, người đã hoàn chỉnh được kỹ thuật soi ổ bụng, một kỹ thuật ngoại khoa mới khi bấy giờ cũng bị chỉ trích rất nhiều, nhưng qua cách ấy mà có thể theo rõi và lấy được trứng ở người đúng khi cần thiết. Nhiều vấn đề chuyên môn khá hóc búa đã xuất hiện mà ông đã phảI bỏ nhiều công sức nghiên cứu như xác định chu trình chín của trứng ở người qua việc định lượng hormon, việc dùng các loại hormon để kích thích chu trình này, theo rõi thời điểm thích hợp để lấy trứng, giữ trứng trong ống nghiệm với môi trường nuôi thích hợp, làm chậm quá trình hành kinh sau khi rụng trứng khi chưa có trứng làm ổ bằng progesteron để có thì giờ chờ đợi trứng được thụ tinh và trở thành phôi dâu trong ống nghiệm… tất cả cái đó không những là công việc nghiên cứu bền bỉ và phức tạp mà còn phảI tranh đấu chống lại các chỉ trich về mặt đạo đức học. Theo như người ta kể lại, chỉ riêng cái công ông đã bỏ ra để đi từ Đại học Cambridge tới phòng khám của Steptoe ở Oldham cách nhau trên 165 dặm Anh (khoảng 250km) nơi có được trứng để làm thí nghiệm; tất cả cho đến khi Steptoe chết (1988) tổng cộng khoảng 750 lần, mới thấy sự say mê và lòng kiên trì nghiên cứu của ông. Mà làm việc không có tài trợ hoặc nếu có thì rất ít không đáng kể của một số người biết và thích công việc của ông.
Cũng may ngoài đòi hỏi những hiểu biết cơ bản về sinh học nói trên thì thao tác kỹ thuật sử dụng cũng khá đơn giản mà ông đã từng làm trên chuôt. Có thể tóm tắt những bước mà hiện nay đã trở thành thường quy (hình) hay được dùng ở phụ nữ bị tắc ống dẫn trứng (1). Đầu tiên phải kích thích bằng thuốc để tăng sinh trứng (2) ở người tự nguyên muốn có thai theo cách thụ tinh nhân tạo rồi mới lấy trứng ra (3) bằng soi ổ bụng nay là siêu âm, đồng thời lấy tinh trùng của người chồng (hay người cho dấu tên) (5) lựa chọn loại tốt (khoẻ, chuyển động nhanh…) cho vào với trứng trong ống nghiệm có môi trường dinh dưỡng (4,6) theo rõi trong 2-3 ngày xem khi nào trứng được thụ tinh tức tinh trùng chui được vào trong trứng và sau đó đợi trứng chuyển thành tế bào nhiều nhân mà theo danh từ chuyên môn gọi là phôi dâu (7).Chọn trứng đã thụ tinh ấy mà đưa vào trong tử cung người phụ nữ đã được chuẩn bị sẵn bằng progesteron để mang thai (8). Đến nay có thể giữ trứng đã thụ tinh trong đông lạnh thì có thể chờ đến kỳ hành kinh tự nhiên sau.
Hình trích trong Phôi thai học. Trinh Bình

Năm 1969 hai ông đã tiến hành các bước như tóm tắt trên ở một phụ nữ vô sinh tự nguyện. Sau mấy ngày theo rõi, lần đầu tiên Edwards mới thấy được dưới kính hiển vi một trứng đã được thụ tinh sinh thành tế bào 4 nhân và Steptoe dùng ống thông đưa trứng ấy vào tử cung, nhưng đáng tiếc ông đã đưa quá xa vào tận ống Falốp nên thai có hình thành nhưng do không đúng chỗ, sau phải huỷ. Khi công bố công việc đã làm, lập tức có nhiều ý kiến khác nhau: hoan nghênh cũng như phản đối cũng nhiều. Dẫu sao hai người vẫn cứ kiên trì tiếp tục công việc của mình. Cuối năm 1977 có cặp vợ chông Lesley và John Brown sau 8 năm không có con đã đến nhờ hai ông làm thụ tinh trong ống nghiệm. Lần này trứng đã thụ tinh và đưa vào làm ổ đúng chỗ, người phụ nữ vô sinh mang thai để đến 25 tháng 6 năm 1978 sinh ra cô bé Louise Brown, con người thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ra đời lành lặn, gây một tiếng vang lớn trên thế giới. Rồi kỹ thuật được hoàn chỉnh và mỗi năm có nhiều trẻ thụ tinh trong ống nghiệm ra đời, những lời công kích cũng dịu dần. Vào năm 2003 sinh nhật lần thứ 25 của Louise Brown đã tụ tập được hơn 5000 đứa trẻ cũng từ ống nghiệm mà ra. Đáng tiếc là Steptoe người đóng góp nhiều công sức đã chết nên không được hưởng sự vinh quang mà nếu như còn sống sẽ cùng chia sẻ vinh dự tiếp nhận giải thưởng Nobel cao quý này. Cho đến nay ước tính trên toàn thế giới đã có đến 4 triệu trẻ được thụ tinh trong ống nghiệm ra đời.
Tỷ lệ thành công còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. nhưng nói chung theo các thống kê khác nhau thì khoảng 30% lần thụ tinh trong ống nghiệm là có kết quả, người càng trẻ càng dễ đạt, còn khi đã đứng tuổi thì khó hơn. Số lần đẻ sinh đôi, sinh ba cũng có, nhưng điều mà nhiều người quan tâm là về khả năng có thể gây dị tật trong thụ tinh trong ống nghiệm, song cũng chưa có số liệu thống kê thuyết phục nào. Hiện nay nhiều cải tiến kỹ thuật đã được áp dụng nhằm hoàn thiện việc thụ tinh trong ống nghiệm. Như người ta đã dùng kim thật nhỏ lấy một tinh trùng mà đưa thẳng vào trứng để tránh nhiều tinh trùng cùng vào một trứng hay nhiều trứng khác nhau là khả năng tạo ra sinh đôi, sinh ba…Đó là kỹ thuât ICSI (Intra Cytoplasmic Sperm Injection). Tiến bộ về công nghệ gen học cũng đã được áp dụng để có thể sàng lọc trước những trứng nghi có khả năng sinh dị tật. Các biện pháp nói chung được gọi là chẩn đoán gen học tiền thụ tinh (Pre implantation Genetic Diagnosis, PGD). Đơn giản nhất là lấy một nhân từ trứng đã được thụ tinh để làm bản đồ thể nhiễm sắc (caryotyp) và loại trừ nếu có khi thấy bất thường như chuyển đoạn, thể nhiễm sắc vòng, thể nhiễm sắc dễ gẫy (hội chứng X dễ gẫy, thiếu máu Fanconi, thất điều…), thể ba (thêm một thể nhiễm sắc phụ) v…v…. Cao hơn là nếu trong sử gia đình của vợ hay chồng nghi có bệnh di truyền thì triết ADN mà làm chẩn đoán như xem có biến dị bất thường, có trình tự ngắn lặp đi lặp lại hay một bệnh di truyền mà nay đã có được các mồi cần thiết. Nói chung đó là chẩn đoán trước khi đưa trứng đã thụ tinh vào trong tử cung. Hơn thế nữa trứng cũng như tinh trùng có thể được giữ lâu dài trong lạnh xâu tại các ngân hàng tinh trùng hay trứng đã thụ tinh và như vậy có thể thụ tinh trong ống nghiệm vào bất kỳ lúc nào người ta muốn ngay cả khi đã qua tuổi sinh đẻ. Đối với một số phụ nữ muốn có con nhưng không muốn mang nặng đẻ đau thì lại có thể thuê “người mang thai đẻ mướn”, việc đã xẩy ra ở vài nước và cũng gây ra nhiều cuộc kiện tụng, tranh cãi rất kỳ cục.
Điều mà những người phản đối thụ tinh trong ống nghiệm chủ yếu thuộc giáo phái Cơ đốc vì cho đó là “ không tự nhiên” cũng như họ đã phản đối việc sử dụng các phương pháp tránh thai. Khi được tin Viện Karolinska quyết định trao giải thưởng năm nay cho vấn đề này, Toà thánh Vatican đã có ngay ý kiến phản đối. Tất nhiên họ có lý của họ vì trong cuộc đấu tranh sinh tồn thì mọi sinh vật phải tìm mọi cách để sinh trưởng và tồn tại. Bản năng tự nhiên đó đã được duy trì bởi “tứ khoái” (ăn, nghỉ, đụ, đẻ). Cũng có thể nếu không có tứ khoái có lẽ không có sinh vật. Nhưng riêng đối với con người vì có bộ não phát triển mà tứ khoái đã bị lòng tham thay đổi hẳn cách sống. Châm ngôn “ăn để mà sống “ đã trở thành “sống để mà ăn” và là nguồn gốc của bao nhiêu bệnh tật của t center">  Tài liệu tham khảo hạn chế

3. http://nobelprize.org/nobel_prizes/medicine/laureates/2010/press.html
4. http//vikipedia.org/wiki/IVF
5. Edwards G. Robert. The bumpy road to human in vitro fertilization. Nature Medicine 7, 1091-1094 (2001)
6. Edwards G. Robert. Maturation in vitro in mouse, sheep, cow, pig, rhesus monkey and huaman ovarian oocyté. Nature 208. 349-351 (1965)
 7. Trịnh Bình. Phôi thai học. NXBYH, Hà Nội 2003
 8. Vũ-Triêu-An. Giải thưởng Nobel Sinh lý hay Y học từ 1901 đến 2007. NXBYH 2007
 
 
 

 

 
 

 

Vũ Triệu An

Các tin khác

Nhận diện HMU
Phân hiệu tại Thanh Hóa
Bài giảng danh dự
Nhắn gửi yêu thương
Quản lý văn bản trực tuyến
Cổng thông tin Sinh viên
Lịch giảng đường
Hệ thống bài giảng điện tử
Phòng Công nghệ thông tin
eLearning HMU
CME HMU
Webconference HMU
Hệ thống thư viện ảo
Thư viện
Lời thề nghề nghiệp
Những điều SV cần biết
Trung tam Phat trien chuong trinh
Trung tâm đào tạo theo nhu cầu xã hội
Bệnh viện Đại học Y
Bác sĩ nội trú
Trung tam Genprotein
TRAC
newsletter
liên hệ

Trường Đại học Y Hà Nội

01 Tôn Thất Tùng-Đống Đa-Hà Nội

+84 024 38523798
daihocyhn@hmu.edu.vn
http://www.hmu.edu.vn
Lượt truy cập:Counters