Bác sĩ Đặng Thùy Trâm và cựu bác sĩ khóa 1961 – 1966 thời chiến. (13-09-2018)
Một ngày mùa Thu đầu tháng 8/2018, chúng tôi đến thăm gia đình Anh hùng Liệt sĩ Bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

      Một ngày mùa Thu đầu tháng 8/2018, chúng tôi đến thăm gia đình Anh hùng Liệt sĩ Bác sĩ Đặng Thùy Trâm xuất phát từ Trường Đại học Y Hà Nội, dẫn đầu đoàn đi thăm là PGS. TS. BS Nguyễn Đức Hinh – Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy nhà trường.

      Tiếp đón chúng tôi trong ngôi nhà thuộc ngõ phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội) là cụ Doãn Ngọc Trâm – mẹ chị Thùy (chị Thùy là tên thường gọi của chị Thùy Trâm khi ở nhà) và chị Phương Trâm (em gái của chị Thùy). Do đã có sự liên hệ từ trước, gia đình chuẩn bị tiếp đón chúng tôi rất trang trọng: Bộ ấm chén mang dùng trà lần đầu tiên – là quà tặng của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đến nhà thăm và tặng quà cho gia đình trước đó vài hôm nhân dịp Kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ Việt Nam 27/7.

      Thắp nén hương lên ban thờ chị Thùy với sự tưởng nhớ thành kính, tôn nghiêm; bên chén nước trà tỏa hương thơm mát dịu, những câu chuyện về chị Thùy xa xưa được ôn lại thực sự xúc động! Bởi ngoài người thân trong gia đình chị Thùy, lần đến thăm gia đình hôm nay trong đoàn chúng tôi còn có PGS. TS. BS Trần Văn Dần – Người bạn học cùng lớp với chị Thùy năm xưa (hiện nay là Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Trường Đại học Y Hà Nội) cùng hội ngộ.

      Ngược dòng thời gian về quá khứ, vào một ngày mùa Thu tháng 8/1961 khóa tân sinh viên y khoa (1961 – 1966) tựu trường lễ Khai giảng ở sân Trường Đại học Y dược khoa – Số 13 Lê Thánh Tông, Hà Nội. Năm ấy, số sinh viên năm thứ nhất (Y1) được chia thành 02 lớp, mỗi lớp chia thành 08 tổ, mỗi tổ ước chừng 25 – 27 sinh viên; chị Thùy Trâm thuộc sinh viên tổ 3, lớp A. Chủ trương của Bộ Y tế ngay từ đầu khóa đã phổ biến đến thày/trò để thông suốt mục tiêu đào tạo hướng về mạng lưới y tế phục vụ cơ sở mọi miền đất nước có tầm chiến lược: Ưu tiên đào tạo bác sĩ đa khoa tuyến huyện; đồng thời đáp ứng tình hình của đất nước với hai miền Nam – Bắc có nhiệm vụ chính trị khác nhau, cho nên việc đào tạo các chuyên khoa vào năm cuối khóa để sẵn sàng chi viện cho miền Nam (“B”), giúp nước bạn Lào (“C”) và Campuchia (“K”). Lời nói của Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch lúc bấy giờ có đoạn: “Khóa này bác sĩ tốt nghiệp chính là một trong những sản phẩm của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…”

      Những năm đầu sinh viên Y1, Y2, Y3 cả 02 lớp A và B học cùng một chương trình theo đúng kế hoạch. Bước ngoặt quan trọng của thời sinh viên bắt đầu từ sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 05/8/1964 giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Đồng chí Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch chủ trương thành lập ngay lớp Y4C (lấy thành phần sinh viên quê ở miền Nam) từ 02 lớp A và B học chương trình riêng, nâng cao, rút ngắn thời gian chung, nhưng học liên tục không nghỉ hè và ưu tiên làm mọi thủ thuật. Lớp Y4C được các thày dẫn dắt sâu sát, chặt chẽ, trực tiếp uốn nắn cho từng cá nhân (nhất là ngoại khoa), khóa học riêng của lớp Y4C đến cuối năm 1965 cơ bản hoàn thành; sinh viên Y4C “ra riêng” không ở Ký túc xá Bạch Mai (nơi bây giờ là Trường Đại học Y Hà Nội) mà về ở khu Giảng Võ và sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam.

      Đến ngày 07/2/1966 Giáo sư Hồ Đắc Di – Hiệu trưởng nhà trường ký quyết định công nhận tốt nghiệp bác sĩ cho lớp Y4C, thì ngày 08/2/1966 đã có người nhận nhiệm vụ đi “B” ngay.

      Lần lượt theo yêu cầu, nhiệm vụ của chiến trường “B” đặt ra các bác sĩ khóa 1961 – 1966 được phân công đi “B” thành nhiều đợt khác nhau. Có đợt một số bác sĩ được điều sang quân đội trước khi đi “B”. Có đợt một số các bác sĩ đi theo các đoàn chung, hoặc phục vụ các đoàn riêng lẻ đặc biệt (như trường hợp của bác sĩ Đặng Thùy Trâm)…

      Ngày chính thức bế giảng kết thúc khóa học của khóa bác sĩ 1961 – 1966 diễn ra vào buổi tối 30/11/1966 tại Giảng đường I - Viện Giải phẫu Hà Nội trong không khí cả nước đang có chiến tranh. Các bác sĩ tân khoa đến dự không đông đủ, bởi trước đó gần 100 bác sĩ thuộc lớp Y4C được đào tạo đặc biệt, được ví như những “hạt giống đỏ” của Thành đồng Tổ quốc đã đi phục vụ chiến trường “B”; hơn 100 các bác sĩ đã vào quân y để phục vụ các chiến trường “B”, “C”, “K”.

      Trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968, bác sĩ Hàn Nhựt Tâm, bác sĩ Nguyễn Thành Phát đã chiến đấu và hi sinh anh dũng, kiên cường. Các bác sĩ Nguyễn Cửu Tám, Trần Quang Tuân, Nguyễn Thị Phương v.v…của khóa bác sĩ 1961 – 1966 đều là những tấm gương sáng hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ.

      Bác sĩ Đặng Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường “B” tháng 12/1966. Sau 03 tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3/1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, chị được kết nạp vào Đảng ngày 27/9/1968. Ngày 22/6/1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, chị bị địch phục kích và hi sinh anh dũng ở chiến trường huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

      Bác sĩ Đặng Thùy Trâm được cả nước biết đến qua quyển nhật ký mà số phận của nó được ghi nhận một cách thần kỳ qua tay một cựu binh Mỹ cất giữ cẩn thận hơn 35 năm… Bác sĩ Đặng Thùy Trâm vinh dự được Nhà nước truy tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, đã được nhân dân cả nước đóng góp kinh phí để xây dựng bệnh xá mang tên Đặng Thùy Trâm, đã có phim về bác sĩ Đặng Thùy Trâm mang tên “Đừng đốt” của đạo diễn NSND Đặng Nhật Minh.

      Chiến tranh đã lùi xa. Tại gia đình chị Thùy hôm nay, chúng tôi xúc động ôn lại kỷ niệm cũ một thời của các anh, chị khóa bác sĩ 1961 – 1966 với tấm lòng giản dị, cao cả, đẹp đẽ, tràn đầy chất anh hùng ca và chất lãng mạn, có sức truyền cảm sâu xa đến phần trong sáng của mỗi con người, như lời tâm sự, lời nhắn nhủ và cả lời thức tỉnh. Thật vậy, khi đã đạt tới sự chân thành dâng hiến hết mình cho nghĩa lớn như chị Thùy Trâm, thì con người ở một thời mà đến được với mọi thời.

 

 

 

 

 

 

 

ThS. Phạm Thành Nguyên - Trưởng phòng Tuyên huấn

Các tin khác