Tri ân những Giáo sư được phong đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (18-02-2020)
Danh sách 09 Giáo sư được phong đợt đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bổ nhiệm ngày 21/01/1955

 

 

GS.BS. Hồ Đắc Di

11/05/1900 - 25/06/1984

Đơn vị cơ hữu: Bộ môn Ngoại,

Trường Đại học Y Hà Nội

Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội (1945 - 1976)

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Chiến sĩ thi đua toàn quốc (1952, 1956);
- Huân chương Độc lập hạng Nhất;
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba;

Quá trình học tập/ công tác:

- Từ năm 1918-1931: Học tập tại Pháp;
- Năm 1931, Ông trở về nước;
- Năm 1932, Ông giảng dạy về phụ sản tại Trường Đại học Đông Dương;
- Từ năm 1937-1945:  Ông có một số công trình khoa học đứng tên chung với các đồng nghiệp;
- Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Ông giữ một số chức vụ: Tổng thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Đại học, Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy, đặc biệt là việc tổ chức lại Trường Đại học Y Hà Nội.
- Từ 1945-1947: Ông được cử giữ chức Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Y Hà Nội;
- Ngoài ra, Ông còn giữ các chức vụ như:
+ Giám đốc Vụ Đại học và Trung học chuyên nghiệp,
+ Ủy viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước,
+ Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam,
+ Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội từ khóa II đến khóa IV,
+ Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa I, khóa II;

+ Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Pháp.


 

Thiếu tướng / GS.BS. Đỗ Xuân Hợp

1906 – 1985

Đơn vị cơ hữu: Bộ môn Giải phẫu,

Trường Đại học Y Hà Nội

Giám đốc Học viện Quân Y (1960 - 1978)

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Anh hùng Lực lượng vũ trang (1985);
-  Huân chương Hồ Chí Minh, 
- Huân chương Quân công hạng nhất 
- Giải thưởng Textut của Viện Hàn lâm Y học Pháp (1949),
-  Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

Quá trình học tập/ công tác:

- Năm 1929, Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Y Dược 
- Từ năm 1932-1945, Ông là Giảng viên Trường Y dược Đông Dương rồi Đại học Y khoa Việt Bắc;
- 1950-1960, Ông là Viện trưởng Viện Quân y Khu 10; Hiệu trưởng kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Giải phẫu Trường Quân y sĩ Việt Bắc, Trường Sĩ quan quân y; 
- Từ 1954-1985, Ông là Chủ nhiệm Bộ môn Giải phẫu Đại học Y khoa Hà Nội 
- Từ 1960-1978, Ông là Giám đốc Học viện Quân y.
- Từ 1965-1985, Ông là Phó Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam 
-  Ngoài ra, Ông còn giữ các chức vụ như:
+ Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII, 
+ Ủy viên Thường vụ Quốc hội khóa IV, 
+ Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế - Xã hội của Quốc hội khóa VI, 
+ Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa III, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội khóa IV.

 

GS.BS. Đặng Vũ Hỷ

17/3/1910 - 04/10/1972

Đơn vị cơ hữu: Bộ môn Da liễu,

Trường Đại học Y Hà Nội

Chủ nhiệm Bộ môn Da Liễu,

Trường Đại học Y Hà Nội

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (1996)

Quá trình học tập/ công tác:

- Năm 1937, Ông tốt nghiệp bác sĩ nội trú Bệnh viện Paris;
- Sau Cách mạng Tháng 8, Ông được mời làm quyền giáo sư, giảng dạy tại Trường Y, chủ nhiệm Bộ môn Da liễu, đồng thời làm chủ nhiệm phòng khám ở Bệnh viện Đồn Thuỷ;
- Kháng chiến bùng nổ, Ông gia nhập Vệ quốc đoàn, phụ trách trạm quân y tiền phương ở Cổ Lễ, tham gia chữa trị trong kháng chiến. Sau đó, Ông phụ trách một Quân y viện ở Thư Điền, tỉnh Ninh Bình. Thời gian này Ông đã tự học và có hiểu biết vững vàng về cả nội lẫn ngoại khoa;
- Ông công tác tại Trường Y sĩ liên khu III - IV ở Nông Cống - Thanh Hóa 
- Khi Trường Y sĩ Thanh Hoá chuyển lên Việt Bắc, sáp nhập với Trường Đại học Y. Ông cùng với gia đình chuyển lên Tuyên Quang, tham gia giảng dạy ở đây. Ông và gia đình đã tham gia kháng chiến trọn vẹn 8 năm liền. 
- Thời gian kháng chiến, mặc dù là bác sĩ chuyên khoa da liễu nhưng do yêu cầu và thiếu thốn nhân sự, Ông còn tự học thêm để giảng dạy nội và ngoại khoa;
- Năm 1954, Ông được phân công làm chủ nhiệm Khoa Da liễu, Bệnh viện Bạch Mai đồng thời kiêm Chủ nhiệm Khoa và Bộ môn Da liễu của Trường Đại học Y Dược Hà Nội.
 
 

 

GS.BS. Nguyễn Xuân Nguyên

21/01/1907 – 1975

Đơn vị cơ hữu: Bộ môn Mắt, Trường Đại học Y Hà Nội

Giám đốc Bệnh viện Mắt Trung ương

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Giải thưởng Hồ Chí Minh (1966).

- Tháng 12/2013: TP Hà Nội vinh danh Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên băng việc đặt tên Phố Nguyễn Xuân Nguyên (huyện Từ Liêm): Cho đoạn từ phố Cao Xuân Huy (cạnh trường Tiểu học dân lập Lê Quý Đôn) đến phố Hoài Thanh (trường Việt Mỹ). Dài: 800m; rộng: 15m-17m

Quá trình học tập/ công tác:

- Năm 1929 1935, Ông học bác sĩ y khoa ở;
- Từ năm 1935 đến 1945, Ông đã công bố 48 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí trong và ngoài nước. 
- Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Ông thôi làm Giám đốc Bệnh viện Mắt để làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố Hải Phòng;
- Sau đó Ông tham gia Ủy ban Kháng chiến hành chính Hải Phòng, kiêm Phó Giám đốc Sở Y tế Liên khu 3.
- Năm 1948-1952, Ông là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu 3, kiêm Giám đốc Sở Y tế Liên khu 3.
- Năm 1952, Ông là một trong những cán bộ giảng dạy nòng cốt của Trường y sĩ Việt Nam liên khu 3-4 ở Thanh Hóa. Khi Trường này sáp nhập với Trường Đại học Y khoa ở Việt Bắc, Ông vẫn tiếp tục tham gia giảng dạy Bộ môn Mắt.
- Từ năm 1960 trở đi, Ông được bầu vào Quốc hội và được cử làm Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhãn khoa và là Ủy viên thường trực của Đảng Xã hội Việt Nam.
- Giữa năm 1975, trong chuyến đi công tác ở các tỉnh phía nam, Ông bị lâm bệnh đột ngột, được giáo sư Phạm Biểu Tâm phẫu thuật nhưng vì bệnh quá nặng Ông đã qua đời.

 

GS.BS. Đặng Văn Ngữ

04/4/1910 - 01/4/1967

Đơn vị cơ hữu: Bộ môn  Ký sinh trùng,

Trường Đại học Y Hà Nội

Viện trưởng Viện sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng Việt Nam

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Anh hùng lao động

- Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một về lĩnh vực Y học.

- Tên của ông được đặt cho nhiều trường học, đường phố tại Hà Nội, Huế, Quảng Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình học tập/ công tác:

- Năm 1937, Ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội.
 - Sau đó, Ông làm trợ lý cho giáo sư bác sĩ người Pháp Henry Galliard Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y khoa Đông Dương;
- Năm 1942, Ông là Trưởng Labo (phòng thí nghiệm) Ký sinh trùng và Ông đã hoàn thành 19 công trình nghiên cứu khoa học nổi tiếng.
- Năm 1943, Ông đi du học tại Nhật Bản. 
- Năm 1945, Ông là Hội trưởng hội Việt kiều yêu nước tại Nhật Bản.
- Năm 1949, Ông về nước tham gia kháng chiến chống Pháp, trở thành giảng viên Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y khoa tại Chiêm Hóa. 
- Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc, Ông đã nghiên cứu thành công cách sản xuất ra thuốc Penicillin, loại thuốc kháng sinh này đã góp phần rất lớn trong điều trị chống nhiễm khuẩn cho thương binh và nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này.
- Năm 1955, Ông sáng lập ra Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng Việt Nam, và làm Viện trưởng đầu tiên của viện này. 
- Ngày 01/4/1967, Ông đã mất trong một trận Mỹ ném bom B52, tại một Chiến trường thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, khi đang nghiên cứu căn bệnh sốt rét.

 

GS.BS. Trương Công Quyền

15/5/1908 - 30/8/2000

Đơn vị cơ hữu: Trường Đại học Y Hà Nội

Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Y Hà Nội

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Nhà giáo Nhân dân, 
- Huân chương Độc lập;
- Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

Quá trình học tập/ công tác:

- Năm 1924, Ông sang Pháp học trường luật, rồi đại học văn nhưng lại chuyển sang học dược. 
- Năm 1934, Ông Tốt nghiệp Dược sĩ hạng nhất Trường Đại học Toulouse 
- Năm 1936, Ông bảo vệ luận án tiến sĩ dược học năm và lên Paris học tiếp y, sinh hóa, huyết học. 
- Năm 1938, Ông về Việt Nam, mở hiệu thuốc tại Hà Nội.
- Năm 1946, Ông cùng với Giáo sư Hồ Đắc Di thành lập và điều hành trường Đại học Y - Dược ở Việt Bắc. 
- Năm 1949, Ông được điều động tham gia quân đội, được phân công đảm nhiệm Hiệu trưởng Đại học Quân dược ở chiến khu, kiêm Phó hiệu trưởng Đại học Y-Dược từ năm 1954.
- Từ năm 1963 đến năm 1997, Ông tham gia biên soạn Dược điển Việt Nam với chức danh Chủ tịch Hội đồng.
 
 

 

GS.BS. Hoàng Tích Trý

05/8/1903 - 21/11/1958

Đơn vị cơ hữu: Bộ Y tế

 Bộ trưởng, Bộ Y tế (1946 - 1958)

Quá trình học tập/ công tác:

- Năm 1932, Ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Ông về nước làm việc tại Viện Pasteur Hà Nội;
- Từ năm 1935-1945, Ông là trưởng Phòng thí nghiệm và Chủ nhiệm khoa tại Viện Pasteur những năm , và là Hội viên những nhà Vi trùng học Paris và Phó hội trưởng Hiệp hội các bác sĩ và dược sĩ Đông Dương;
- Sau Cách mạng tháng 8, Ông tham gia Chính phủ lâm thời với cương vị Thứ trưởng Bộ Y , 
- Từ 1945-1954, Ông là Giám đốc Viện Vi trùng học Việt Nam;
- Từ 1946 - 1958, Ông được cử Bộ trưởng Bộ Y tế;.
- Sau khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Ông rút về làng Đông Ngạc rồi chuyển lên chiến khu Việt Bắc. - Trong những năm kháng chiến, Ông cùng Bộ Y tế chỉ đạo xây dựng mạng lưới y tế nhân dân, phối hợp cùng với quân y tham gia cấp cứu, phòng dịch ngoài mặt trận, đồng thời xây dựng cán bộ y bác sĩ tại các trường y. Ông cũng trực tiếp chỉ đạo Viện Vi trùng học nghiên cứu và chế tạo thành công vắc xin phòng các bệnh thương hàn, tả, đậu mùa, dại.
- Sau khi trở về Hà Nội vào ngày 10 tháng 10 năm 1954, Ông tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế, đồng thời làm Trưởng Bộ môn Vi sinh vật.
 
 

 

GS.BS. Tôn Thất Tùng

10/5/1912- 07/5/1982

Đơn vị cơ hữu: Bộ Y tế

Thứ trưởng, Bộ Y tế (1947 - 1961)

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Anh hùng lao động
- Huân chương Hồ Chí Minh (1992)
- Huân chương Lao động hạng Nhất
- Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất
- Huân chương Kháng chiến hạng Ba
- Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996)  

Quá trình học tập/ công tác:

 

- Năm 1935, Ông học tại Trường Y khoa Hà Nội;
- Năm 1938. Ông là người duy nhất trúng tuyển một cách xuất sắc trong kỳ thi khóa nội trú đầu tiên của trường và mở đầu tiền lệ cho các bác sĩ nội trú người bản xứ.
- Từ năm 1935 đến năm 1939, chỉ bằng một con dao nạo thô sơ, Ông đã phẫu tích trên 200 lá gan của tử thi để nghiên cứu các mạch máu và vẽ lại thành các sơ đồ đối chiếu. 
- Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Ông được Việt Minh giao nhiệm vụ chữa bệnh cho Hồ Chí Minh. 
- Một thời gian sau, Ông được cử làm Giám đốc bệnh viện Phủ Doãn và cùng với giáo sư Hồ Đắc Di, Ông đã bắt tay xây dựng Trường Đại học Y Hà Nội. 
- Từ năm 1947 - 1961, Ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế;
- Từ năm 1954, Ông làm Giám đốc bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, và giữ cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại Đại học Y Dược Hà Nội. 
- Năm 1958, Ông là người đầu tiên mổ tim ở Việt Nam;
- Trong những năm 1960, Ông đã nghiên cứu thành công phương pháp "cắt gan có kế hoạch", thường được gọi là "phương pháp mổ gan khô" hay "phương pháp Tôn Thất Tùng". 
- Ông cũng là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu tác hại của chất độc hóa học điôxin đến con người và môi trường tại Việt Nam, phương pháp điều trị các vết thương do bom bi, phương pháp điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật kết hợp dùng miễn dịch và rất nhiều công trình khoa học khác.

 

GS.BS. Trần Hữu Tước

13/7/1913 - 23/10/1983

Đơn vị cơ hữu: Bộ môn Tai Mũi Họng,

Trường Đại học Y Hà Nội

Giám đốc Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương

Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng:

- Anh hùng lao động
- Truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ (năm 1996).

Quá trình học tập/ công tác:

- Năm 1937, Ông Bảo vệ luận án bác sĩ y khoa xuất sắc và được giữ lại làm trợ lý cho giáo sư Lơ-mi-e, chuyên gia Tai Mũi Họng danh tiếng thời đó. 
- Năm 1939, Đại chiến thế giới lần thứ II bùng nổ, Ông tham gia vào hàng ngũ những người kháng chiến yêu nước Pháp, chống lại quân Đức.
- Năm 1946, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Ông là một trong những trí thức theo Hồ Chủ tịch về nước;
- Trong Kháng chiến chống Pháp, Ông tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Y Dược tại chiến khu. Hoà bình lập lại, 
- Từ năm 1955 - 1969, Ông trở thành Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội 
- Từ năm 1961-1983 Trưởng Bộ môn Tai Mũi Họng của trường, Chủ tịch Hội Tai Mũi Họng Việt Nam, 
- Ngoài ra, Ông còn giữ một số chức vụ:
+ Viện trưởng đầu tiên của Viện Tai Mũi Họng Trung ương (từ 1969), 
+ Đại biểu Quốc hội, Uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 
+ Chủ tịch đầu tiên của Tổng hội Y học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
- Từ lúc mới thành lập cho đến lúc cuối đời, Ông đã đóng góp toàn bộ sức lực để xây dựng ngành Tai Mũi Họng Việt Nam hoàn chỉnh, đồng thời có nhiều công trình nghiên cứu, chuyên sâu vàp các lĩnh vực: ung thư tai - mũi - họng (ung thư vòm, hạ họng, thanh quản), viêm tai - xương chũm hài nhi; apxe não và tiểu não do tai, điếc trẻ em, dị ứng trong tai - mũi - họng, nội soi...

 

Trường Đại học Y Hà Nội

Các tin khác