Chủ tịch Hồ Chí Minh với Giáo sư Trần Hữu Tước (27-02-2020)

Năm 1946, Bác sĩ Trần Hữu Tước, một thầy thuốc trẻ ở Paris tình nguyện theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước. Ông đã được Bác Hồ quan tâm dìu dắt, chăm lo ân cần và thân tình. Ông đã có nhiều thành tích phục vụ nhân dân, được phong tặng chức danh Giáo sư từ năm 1955, danh hiệu Anh hùng Lao động năm 1966. Bài viết sau đây kể về sự chăm lo của Bác đến sức khỏe của ông trong những năm kháng chiến.

Giáo sư Trần Hữu Tước là người Hà Nội. Sau khi đỗ tú tài, đi du học Pháp, tốt nghiệp bác sĩ năm 1937, có địa vị, uy tín tại thủ đô Paris, nhưng nặng tình nghĩa với quê hương, đặc biệt từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam độc lập ra đời. Đầu năm 1946, bác sĩ được bà con Việt kiều cử đến phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp và phái đoàn Chính phủ ta do ông Phạm Văn Đồng là Trưởng đoàn dự hội nghị Fontainnebleau. Kết thúc hội nghị, ông tình nguyện theo Hồ Chủ tịch về nước tham gia công cuộc cách mạng và kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong nhiều tháng đươc gần Hồ Chủ tịch ở Pháp, hơn 2 tháng được ở bên Người trên chiến hạm từ Pháp về Việt Nam, Bác Hồ có tình cảm đặc biệt với Bác sĩ Tước như tình cha con, tình thầy trò và còn là bạn tâm tình.

Về nước, tham gia giảng dạy ở Trường Đại học Y chưa được bao lâu, toàn dân bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ tháng 12/1946, ông phụ trách cứu thương cho bộ đội chiến đấu tại Hà Nội. Tháng 2/1947, ông cùng với các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội ra vùng kháng chiến, tới làm việc tại Trường Y sĩ Việt Nam liên khu III – IV. Ông đã nhận được nhiều thư động viên và thăm hỏi của Bác.

Tấm thiếp đầu tiên do Bác Hồ tự đánh máy gửi cho ông mà ông rất cảm động: “Bác sĩ Tước. Đã lâu không gặp. nhớ chú luôn. Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Y tế báo cáo: Chú làm việc rất hăng hái. Tôi rất vui lòng. Chú cứ cố gắng. Kháng chiến nhất định thắng lợi, Tổ quốc sẽ nhớ công lao của con hiền cháu tốt. Tôi bình an luôn luôn. Chúc chú mạnh khỏe.

Chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí minh 2/1947”

 

Bảy tháng sau Bác gửi thư tiếp và nhắc tới hai trí thức cùng ở Paris về nước là Kỹ sư Trần Đại Nghĩa và Kỹ sư Võ Tá Huân:

“Gửi Bác sĩ Tước,

Chú Tước thân mến,

Đã lâu không gặp, lại không được tin tức, nhớ chú lắm. Hỏi thăm, người thì nói chú khỏe, kẻ thì nói chú yếu. Nhưng họ cũng chỉ nghe nói thôi. Mong chú cho tôi biết tin tức.

Nói để chú biết chú mừng: Tôi vẫn mạnh khỏe luôn. Mấy anh em cùng về một lần với chúng ta, chú Nghĩa và chú Huân làm việc rất hăng hái và đắc lực, đã giúp sức rất nhiều trong công việc kháng chiến.

Chào thân ái và quyết thắng.

Hồ Chí mình 20/9/1947”.

Thư Bác gửi đầu năm 1948:

“Gửi Bác sĩ Tước, ở Vân Đình, Hà Đông.

Nhận được thơ chú viết 1/11/1947. Nghe nói chú gầy còm, tôi rất áy náy. Chú phải nghỉ việc, để dưỡng sức đã. Chớ làm quá sức mà thành “tham một đĩa, bỏ cả mâm”. Nếu thiếu thốn gì, cứ thật tình hỏi anh em địa phương giúp, hoặc hỏi tôi, chớ ngại. Chú nên thường cho tôi biết sức khỏe chú tiến bộ thế nào. Tôi vẫn mạnh khỏe luôn, và nhớ chú luôn. Chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí Minh. Tháng 01/1948”.

Tháng 8/1948, Bác viết thư tay và gửi cho chiếc áo lụa:

“Gửi Bác sĩ Tước,

Tôi gởi biếu chú 1 cái áo, áo này là do đồng bào biếu tôi. Chú phải cẩn thận chăm giữ sức khỏe. Tôi đã dặn anh em địa phương, chú có cần gì, cứ hỏi họ. Chớ nên câu nệ. Tôi mạnh khỏe như thường.

Chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí Minh 8/1948”.

Cuối năm 1949, do làm việc vất vả, đi lại nhiều và chưa quen khí hậu, sức khỏe của Bác sĩ Tước giảm sút rõ rệt. Bác viết thư ra lệnh cho ông phải nghỉ công tác:

“Gửi Bác sĩ Trần Hữu Tước,

Tôi gửi lời thăm chú. Nghe nói chú ốm, vậy chú phải nghỉ một tháng để dưỡng bệnh. Chú Trân sẽ thu xếp zúp chú. Đây là mệnh lệnh?

Chào thân ái và quyết thắng.

Hồ Chí Minh tháng 12/1949”.

Ông nhận ra, Bác đã hết sức chú ý đến cách dùng từ ngữ, Bác gạch bỏ chức “cho” chú và viết thay bằng chữ “giúp” chú, Bác lại thường viết chữ Z thay thế chứ GI.

Năm 1951, sau mấy năm bị bệnh, Ông chỉ còn 42kg, so với lúc về nước ông nặng 75kg. Có người gợi ý và tổ chức cũng có thể chấp nhận, ông có thể trở lại Hà Nội tạm chiếm để chữa bệnh, nhưng ông nhất quyết từ chối và tỏ ý nếu có làm sao cũng chết ở trên mảnh đất tự do.

Chiến dịch Cao Bắc Lạng thắng lợi. Nước ta nối liền với nước bạn Trung Quốc và phe Xã hội chủ nghĩa. Trung ương và Bác điện nhiều lần vào Thanh Hóa, giục ông lên Việt Bắc để sang Trung Quốc điều trị.

“Gửi chú Tước và chú Tuất,

Nay có dịp đi chữa bệnh. Hai chú gắng ra được mà đi chữa, thì rất hay. Ngoài này có điện vào mấy lần, không thấy hai chú trả lời. Chắc điện đi lạc.

Chào thân ái và quyết thắng

Hồ 1/1951”

Cuối thư, Bác dùng bút mực với chữ Hồ giản dị nhưng cương quyết.

Không thể từ chối và cũng mong được gặp Bác, ông đã rời Thanh Hóa đi tới An toàn khu. Tại đây, Bác đã cho chuẩn bị một căn nhà cao ráo, thoáng rộng bằng tre nứa bên bờ suối, đơn sơ, nhưng khang trang. Bác còn gửi sang cho mấy chai rượu cùng một số đồ hộp, chiến lợi phẩm.

Ngày hôm sau, Ông đến chào Bác. Vừa bước vào khoảng sân nhỏ, Bác đã nhanh nhẹn từ trong nhà đi ra. Bác bắt tay và ôm lấy ông. Với một giọng ấm áp, ân cần, Bác hỏi kỹ về bệnh tật rồi công tác, Bác cũng nói cho nghe tình hình trong nước và nước ngoài. Cuối cùng Bác dặn:

Có điều kiện, chú nên ra nước ngoài điều trị, rồi còn bao nhiêu công việc…

Một buổi chiều, một chiếc xe zíp nhỏ đến đón ông lên đường sang nước bạn. Chuẩn bị lên xe, ông nghe thấy có tiếng ngựa phi, nhịp nhàng đi tới… Ông nghẹn ngào cảm động. Bác Hồ đã đến tiễn.

Bác trao cho phong thư gửi cho đại diện Chính phủ ta ở Trung Quốc. Bác dặn chớ nói mình là thầy thuốc và ân cần khuyên ông cố gắng an tâm chữa bệnh.

Bác thấy ông gầy dô cả xương mà chỗ ngồi, chỗ tựa của cái ghế zíp rất cứng, Bác gọi lấy hai chiếc gối cỏ để chèn cho khỏi bị xóc khi đi đường trường, rối thấy đầu có thể va vào khung sắt của mui xe, Bác lấy ngay mũ vàng của Bác chụp lên đầu và lần nữa, Bác dặn chú ý!

Xe chuyển bánh, Bác đứng một lúc, vẫy tay, rồi Bác nhảy lên lưng ngựa và gò cương phi phóng về phía trước, trong trùng điệp núi rừng Việt Bắc. Hình ảnh đẹp ấy ghi mãi trong ông suốt những năm về sau.

Sáu tháng sau, Ông phải trải qua một phẫu thuật cấp cứu, lúc đó chỉ còn da bọc xương ở một bệnh viện tại Bắc Kinh.

Năm sau, bình phục, ông trở lại Việt Bắc. Ông tiếp tục công việc chuyên môn tại Bệnh khoa Tai Mũi Họng ở Chiêm Hóa. Thỉnh thoảng ông nhận được quà Bác gửi cho, khi vài quả trứng, khi thì ít rau cải xoong mọc ở ngọn suối, gần nơi Bác ở. Có lần ông được Bác giữ lại ăn cơm. Ông lại được ngồi cạnh Bác như thuở nào trên chiến hạm từ Pháp về nước. Trong các bữa ăn, Bác từ từ đưa tay đẩy cốc rượu vang đỏ tới ông. Bác đã ý tứ lặng lẽ cho phép ông uống rượu như những ngày nào năm xưa, những kín đáo, nhẹ nhàng!

Hòa bình lập lại năm 1954, Giáo sư Trần Hữu Tước trở về Hà Nội, cùng với việc đảm đương nhiều nhiệm vụ quản lý, chuyên môn của ngành và tham gia các hoạt động xã hội, giáo sư là thầy thuốc chăm sóc sức khỏe cho Bác và ở bên Bác lúc Bác sắp đi xa (2/9/1969). Năm 1983, căn bệnh hiểm nghèo lại tái phát, Ông đã ra đi theo Bác Hồ khi ông tròn 70 tuổi. Giáo sư Trần Hữu Tước đước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động năm 1966 và được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật năm 1966.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với GS. Trần Hữu Tước và GS. Nguyễn Tấn Gi Trọng và các trí thức thủ đô (1964) Chủ tịch Hồ Chí Minh với GS. Trần Hữu Tước, Bộ trưởng Y tế BS. Phạm Ngọc Thạch tại Bệnh viện Bạch Mai (8/3/1960)

 

Trần Giữu

Các tin khác